"- Bóng đá Đức đã bị tổn thương bởi thất bại 8-3 của ông. - Bóng chúng ta đang dùng để thi đấu là do Thụy Sĩ sản xuất, và lần cuối cùng tôi thấy, nó vẫn căng và tròn thôi. Chẳng thấy vết thương nào cả!"
"Trái bóng thì tròn còn trận đấu kéo dài tới 90 phút"
"Con nghĩ đàn ông Đức từ nay có thể khóc rồi"
Cội nguồn sức mạnh của một nền bóng đá. Khoảnh khắc hồi sinh của một dân tộc. Một điều kỳ diệu, một kỳ tích. Đó chính là Das wunder von Bern.
Bộ phim được sản xuất năm 2003 bởi đạo diễn Sönke Wortmann, ra mắt khán giả ngày 16/10/2003, 2 tháng sau sự ra đi của huyền thoại Helmut Rahn, kể về câu chuyện của một gia đình người Đức (nhân vật chính là cậu con út trong gia đình và người cha cựu tù binh chiến tranh của cậu) và chiến thắng kỳ diệu đầy bất ngờ của đội tuyển Tây Đức tại World Cup 1954 ở Bern, Thụy Sĩ.
Bộ phim đã xây dựng thành công chân dung của nước Đức thời hậu chiến. Với trên 6 triệu lượt khán giả tới rạp, đây là một trong những bộ phim có doanh số cao nhất của điện ảnh Đức. Bộ phim cũng đã được viện Goethe giới thiệu và trình chiếu ở VN cách đây vài năm tại Trung tâm chiếu phim Quốc gia - Hà Nội.
Các diễn viên: Louis Klamroth ... Matthias Lubanski Peter Lohmeyer ... Richard Lubanski Johanna Gastdorf ... Christa Lubanski Mirko Lang ... Bruno Lubanski Birthe Wolter ... Ingrid Lubanski Katharina Wackernagel ... Annette Ackermann Lukas Gregorowicz ... Paul Ackermann Péter Franke ... Sepp Herberger Sascha Göpel ... Helmut Rahn Knut Hartwig ... Fritz Walter Holger Dexne ... Horst Eckel Simon Verhoeven ... Ottmar Walter Jo Stock ... Toni Turek Martin Bretschneider ... Hans Schäfer Christian Broos ... Werner Kohlmeyer
Vài điều bí mật: - Các diễn viên đóng vai các cầu thủ trong phim cũng đều là các cầu thủ ở ngoài đời. - Andreas “Obel” Overing, người đóng vai bình luận viên Herbert Zimmermann và một thành viên của cặp tấu hài “Till and Obel” của Đức. - Đạo diễn Soenke Wortmann cũng từng là cầu thủ chơi ở giải hạng nhì cho CLB SpVgg Erkenschwick và Westfalia Herne. - Sau buổi chiếu thử bí mật vào tháng 8 năm 2003, đạo diễn Soenke Wortmann và Rudi Voeller, HLV đội tuyển Đức lúc đó, đã thảo luận việc mời Helmut Rahn (cựu tiền đạo và người đã ghi bàn thắng quyết định trong trận CK năm 1954) hiện đang sống ẩn dật, tới tham dự buổi công chiếu. Nhưng Rahn đã qua đời đúng đêm hôm ấy. - Người đàn ông giới thiệu mẫu giày mới (giày đinh) cho HLV Herberger trong phim được gọi là “Adi”. Sau đó tên của ông ta được tiết lộ là Dassler. Đó chính là người sáng lập nên hãng sản xuất đồ thể thao Adidas ngày nay. - Ngoài câu chuyện về gia đình Lubanski hoàn toàn được sáng tạo ra, những chi tiết khác trong phim có liên quan tới bóng đá (những lá thư, kết quả trận đấu, 3 cầu thủ vượt rào đi nhậu, tường thuật trận đấu, Adi Dassler…) đều là sự kiện có thật. - Peter Lohmeyar (vai Richard Lubanski) cũng là cha đẻ của Louis Klamroth (vai Matthias Lubanski) ngoài đời. Download:
(Phim được chiếu 1 suất duy nhất tại Viên Goethe nhân sự kiện 60 năm điện ảnh Đức tại Việt Nam)
- Anh biết không, khi một cặp đôi chia tay nhau, họ thường chọn một ngôi sao để cùng được ngắm nhìn bất cứ lúc nào. - Thật may mắn vì bầu trời không thể bị chia đôi. - Không, anh nhầm rồi. Bầu trời là thứ bị chia cắt đầu tiên.
Đó là một bộ phim không thể hiểu hết nếu chỉ xem 1 lần, thêm vào đó là một nửa phụ đề tiếng Anh bị cái đầu trước mặt che mất, chỉ đủ để nhận ra rằng thuyết minh tiếng Việt chính xác ở mức dưới trung bình, mình không nghĩ mình có thể hiểu hết và cảm nhận hết cả bộ phim. Nhưng dù chỉ ít ỏi thôi, nó cũng mang lại những xúc cảm nhất định.
Nữ nhân vật chính – Rita – một thiếu nữ bình thường lớn lên trong một gia đình điển hình của nhà nước XHCN tại CHDC Đức. Và nam nhân vật chính – Manfred – một nhà khoa học say mê với công việc và có nhận thức về cả hai luồng tư tưởng giữa Đông và Tây. Như lời Manfred thì khi Rita còn đang học mẫu giáo, anh đã biết cười nhạo tấm thẻ Đảng viên của ông bố từng là thành viên Đức Quốc xã của mình. Họ ở bên nhau và điều chung nhất giữa họ chính là tình yêu. “Em là điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời của anh, tóc nâu ạ”. Không phải những mối tình bốc lửa của những ngôi sao Hollywood thời đó, cũng không phải thứ tình yêu trẻ con hay bộc phát như hiện tại, tình yêu của họ vừa chậm rãi, vừa lãng mạn, lại bền chắc và chin muồi, như tình yêu của chúng ta ngoài đời thực vậy. Mỗi ngày, họ lại yêu nhau hơn, “niềm hạnh phúc là khi làn da và hơi thở của chúng ta là một”.
Nhưng tình yêu lại không phải là toàn bộ cuộc sống của họ. “Anh ước gì trận mưa này kéo dài mãi, ngập hết cả thành phố, chỉ còn anh và em trên một con thuyền trôi nổi ở bất cứ nơi nào”. Khi nghe anh nói vậy, cô đã thắp sáng một ngọn đèn ngoài cửa sổ. “Nếu vậy, con thuyền của chúng ta sẽ là ngọn hải đăng, để dẫn mọi người tìm thấy, chúng ta không thể chỉ còn lại một mình”. Từ thời điểm đó, cho dù không hề biết, nhưng giữa hai người họ, đã có một sợi dây ngăn cách.
Do một sai lầm, cô được cử tới một xưởng đóng tàu – một nơi chỉ dành cho cánh đàn ông – để làm việc. Ở đó, cho dù ban đầu còn ngỡ ngàng, cho dù những mâu thuẫn quyền lợi chưa từng chấm dứt, cô đã học được nhiều điều. Một người thợ cả đã già, không còn ý chí đấu tranh sau khi bị cấp dưới của mình hạ bệ từ trưởng xưởng xuống làm nhân viên. Một anh thợ trẻ đã dám đặt ngược dấu hỏi về năng suất lao động của một ngày làm việc. Những con người nhìn bề ngoài có vẻ đã phó mặc cuộc đời mình cho sự quan liêu và trì trệ của chế độ hủy hoại bản thân mình, nhưng vẫn luôn hy vọng được cống hiến và được ghi nhận. Họ chính là một góc điển hình của nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa kiểu cũ của những năm 1960 – bị đè nén trong tư tưởng và lối sống nhưng vẫn hướng tới những giá trị tốt đẹp của con người.
Và còn một câu chuyện khác, có lẽ đã đóng vai trò quan trọng dẫn tới hành động của Rita ở phần cuối phim. Cô được cử đi học đại học và quen với một cô bạn gái. Một ngày, khi cô bạn đi du lịch trở về nhà, cha mẹ và các em của cô đã biến mất. Họ bỏ trốn sang Tây Đức, để lại một mình cô. 1 tuần sau Rita biết chuyện, 3 tuần sau, sự việc mới vỡ lở. Một cuộc họp kiểm điểm được tổ chức. Trong cuộc họp đó, họ đòi kỷ luật nghiêm khắc Rita và đuổi học cô bạn kia. Nhưng có một người đã đứng lên bênh vực họ. “Đảng phải tự hỏi lại mình vì sao cô ấy không tin vào Đảng. Đảng đã làm gì để cô ấy biết rằng sau lưng mình có Đảng? Tại sao chúng ta không kiên nhẫn và chờ đợi?”
Kiên nhẫn và chờ đợi, tự thay đổi mình trước khi thay đổi cuộc sống xung quanh. Rita đã học được điều đó thay vì sự nóng nảy, vội vã và từ bỏ, điều đã xảy ra với Manfred trong tình huống tương tự, khi công trình nghiên cứu của anh không được thừa nhận. Manfred đã tìm tới Tây Đức, chỉ để lại vỏn vẹn một lá thư: “Hãy tới tìm anh, phần còn lại của cuộc đời anh sẽ chỉ chờ đợi em”. Và Rita đã tìm anh, như cô vẫn thường nghe theo anh trong mọi việc.
Ấy là một thế giới thật mới lạ. Ở Đông Đức, cô và các đồng nghiệp phải mất bao nhiêu thời gian mới lắp đặt xong một con tàu. Nhưng ở Tây Đức, những con tàu lao trên đường ray nhanh tới chóng mặt. Ở Đông Đức, một chiếc radio để bắt sóng cũng đã hiếm có, vậy mà ở đây, họ có đầy những ti vi, biển hiệu lấp lánh, nhà hàng sang trọng, nơi người ta phục vụ riêng cho từng người khách. Ở lại đây, cô sẽ có anh, tình yêu và khao khát của cô, tất cả đều thật dễ dàng.
Nhưng cô đã trở lại. Anh ra đi chỉ để lại một bức thư – đó là sự thật quá tàn nhẫn với cô. Rita tới tìm anh, chỉ là để gặp lại anh, nhìn cuộc sống mà anh đã chọn thay vì ở bên cô. “Ở nơi ấy, cho dù được tự do, nhưng con người rất cô đơn”. Tôi bỗng chợt nghĩ lại một người bạn học của tôi từng hỏi cô giáo rằng: “Thời ấy con người khổ như thế, sao họ vẫn có thể vui vẻ được? Trong khi ngày nay chúng ta sung túc, nhưng chẳng ai thấy hài lòng cả.” Phải chăng đây chính là câu trả lời? Bởi vì dù khó khăn, nhưng họ vẫn có nhau, cần tới nhau, giúp đỡ lẫn nhau, sống một cách kiên cường để vượt qua tất cả những khó khăn ấy. So với sự dũng cảm dám đương đầu và chờ đợi sự thay đổi, thì sự chạy trốn hèn nhát trên một con đường dễ dãi hơn chắc chắn không phải điều tốt đẹp. Rita đã trở lại, nhưng cô sẽ không bao giờ hối hận.
Bạn sẽ tìm thấy nhiều nét tương đồng giữa Việt Nam và Đông Đức lúc bấy giờ, từ bối cảnh xã hội cho tới kỹ thuật quay phim. Những cảnh quay cận mặt đặc tả đôi mắt, tiết tấu lướt nhanh nhưng cô đọng khi cần, tất cả gợi cho tôi nhớ lại những bộ phim đen trắng của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam được sản xuất cũng vào thập niên 60 khi đó. 60 phút đầu có lẽ trôi quá chậm và khó khăn, nhưng 50 phút sau, những nét đẹp của bộ phim mới bắt đầu tỏa sáng mạnh mẽ. Tôi nghĩ đây là một bộ phim xứng đáng làm đại diện cho nền điện ảnh Đức với thế giới.
Vốn dĩ chẳng biết gì về phim này, chỉ là có đứa bạn là fan của Vương Lực Hoành, rủ bạn đi xem, nên bạn đi. Trước khi xem 1 ngày mới biết tên tiếng Anh của nó là Little Big Soldier và nhìn thấy poster quảng cáo. Ko trailer, không background, không casting, bạn nhắm mắt đưa chân chỉ vì từ đầu năm tới giờ phim xem được quá ít. Tuy nhiên khi xem xong, bạn thật sự ấn tượng. Còn hay hơn cả Percy Jackson bạn mới xem trước đó 1 ngày, một bộ phim hiếm hoi bạn cho rằng có thể xem thêm 1 lần nữa. Bộ phim nhắc bạn nhớ tới Rồng tái sinh – kể về cuộc đời vị tướng Triệu Tử Long bạn xem từ năm 2008.
Nội dung Đại binh tiểu tướng:
Cuối thời Chiến quốc, Trung Hoa bị phân thành hàng trăm nước nhỏ, trong đó có Vệ và Lương. Nước Vệ nuôi mộng thống lãnh thiên hạ, đã đưa quân tinh nhuệ tới tiêu diệt nước Lương làm bàn đạp để xưng bá. Không ngờ trong nước Vệ có nội gián, 1000 quân Vệ tập kích nước Lương bị 2000 quân nước Lương phục kích, hai bên lao vào một trận chiến tàn khốc mà kết cục là lưỡng bại câu thương. Chỉ còn duy nhất hai kẻ sống sót, một tướng quân nước Vệ, và một tiểu binh nước Lương. Tên tiểu binh nước Lương đã bắt giữ tướng quân nước Vệ với hy vọng trở về nước nhận 5 mẫu ruộng thưởng và suốt đời thoát khỏi quân dịch, bình yên làm một nông dân. Hắn chỉ không ngờ, hành trình trở về với tên tù binh đáng giá nước Vệ không hề dễ dàng, mà là một cuộc chiến còn tàn khốc hơn, trong đó kẻ chiến thắng không phải là người còn sống.
(trailer Đại binh tiểu tướng)
Nhân vật:
Đây là một bộ phim đặc biệt, các nhân vật đều không có tên họ đầy đủ, họ chỉ là “tiểu nhân vật”, “tướng quân”, “Văn công tử”, “Vũ”, “kỹ nữ”…., nhưng lại có một thời điểm và địa điểm rất rõ ràng trong quá khứ: Phụng Hoàng Sơn năm 227 Trước công nguyên.
“Tiểu nhân vật”, hay “tiểu binh” là một kẻ sợ chết, hay đúng hơn là không thể chết. Hắn ra chiến trường với những túi máu treo sẵn trên người, một mũi tên giả cắm trước ngực và sau lưng luôn được bật lên khi cần thiết và nhiều mánh khóe để sống sót tới lúc cuộc chiến qua đi, sẵn sàng trở thành đào binh để bảo toàn mạng sống. Tiểu binh ra chiến trường theo lệnh bắt quân dịch của triều đình Lương quốc. Gia đình hắn chỉ còn một mình hắn sống sót sau những cuộc chiến. Hắn chỉ là một gã nông dân có hiếu với cha mình, mang mơ ước nhỏ nhoi là có được vài mẫu ruộng để làm nông, mặc kệ thiên hạ ra sao, chỉ cần hắn được sống bình thường là được. Theo như lời Tướng quân và một nhân vật trong phim, thì Tiểu binh là nỗi xấu hổ của quân Lương.
“Tướng quân” chính là thái tử Vệ quốc. Giấc mộng của hắn là giấc mộng bá vương, thống nhất thiên hạ để đem lại thái bình thịnh trị với lý lẽ: phải có chiến tranh rồi mới có hòa bình, thiên hạ còn phân chia thì còn loạn lạc. Trong lòng mang theo hoài bão lớn lao và sự ngạo mạn về phẩm chất của một chiến binh, hắn đã sống sót sau cuộc chiến chỉ để lá cờ của nước Vệ không gục xuống, hắn thà chết trên chiến trường còn hơn phải làm một tù binh nhục nhã. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi khi hắn biết rằng Văn công tử, em trai hắn, đang truy sát chính anh mình. “Phụ thân ngươi nói đúng, không thể chết oan ức không rõ ràng được”, hắn quyết tâm dù trở thành tù binh và bị giết ở Lương quốc, vẫn hơn bị em trai mình ám sát trong rừng. Vậy là cuộc hành trình trong Phụng Hoàng Sơn của Tướng quân và Tiểu binh bắt đầu, để rồi tới cuối cuộc hành trình, cả hai người đều đã thay đổi.
Đánh giá về nội dung:
Đúng như review trên tờ rơi, Đại binh tiểu tướng là một thông điệp về chiến tranh và hòa bình. Tiểu binh và tướng quân hoàn toàn trái ngược nhau. Tiểu binh tin rằng trong chiến tranh cũng sẽ có được hòa bình, trong khi Tướng quân lại cho rằng chỉ có bằng chiến tranh mới có được hòa bình. Tiểu binh lúc nào cũng chỉ lo lắng những việc rất nông dân, như có 5 mẫu đất thì phải trồng cái gì, làm sao để tiếp tục sống sót thêm một ngày, cuộc sống bình thường làm sao mới có được; tướng quân thì chỉ nghĩ tới việc cầm quân, tới chuyện nước Vệ có nội gián, tới chuyện làm sao để thống lãnh được Vệ quốc rồi toàn thiên hạ, làm sao để được chết hiên ngang với đúng vị thế của mình.
Thế rồi bằng sự vi diệu trong những tiếp xúc và tình tiết phim, vị trí của họ dần tráo đổi cho nhau, để tới cuối cùng, Tiểu binh luôn mơ ước làm một nông dân, đã cảm động vì con người của Tướng quân, mà trở thành một đại binh, thả tù nhân của mình trở về Vệ quốc, dựng lên lá cờ của quân Lương, hiên ngang trở về nước mình, rồi gục ngã để giữ cho lá cờ Lương quốc vẫn đứng vững. Còn Tướng quân, hắn trở về làm Vệ vương, nhưng đã trở thành một tiểu tướng, không còn ham chinh chiến, mà đã từ bỏ sĩ diện của bản thân, đầu hàng Tần quốc để nước Vệ không bị tàn phá, bách tính được an toàn. Đi được từ bước đầu tiên tới bước cuối cùng trái ngược, đó là một cuộc hành trình mà nhân tính và khao khát hòa bình đã chiến thắng những tham vọng quyền lực và danh lợi. Đó là thời điểm Văn công tử không thể giương nỏ bắn chết anh mình, là thời điểm Tướng quân lao vào cuộc chiến để bảo vệ em trai, để rồi người em trai lại chết để hắn được sống, chỉ vì “trong hai chúng ta nhất định phải có một người còn sống vì nước Vệ”. Đó là thời điểm Tiểu binh chặt đứt dây trói Tướng quân và đẩy con thuyền từ Lương quốc ra sông trở về Vệ quốc, hay lời thề của tướng quân với tiểu binh: trong 10 năm sẽ không xâm phạm tới nước Lương. Và đó là hình ảnh một Đại binh ngực cắm đầy mũi tên vẫn giữ chặt cho lá cờ Lương quốc không đổ xuống, “nước Lương chưa mất, vì vẫn còn ta đây”. Tất cả đều là những khoảnh khắc rung động tới tận tâm can. Cũng như Rồng tái sinh, bộ phim này đã thành công khi khai thác những khía cạnh rất khác bên ngoài những cuộc chiến tranh và chủ nghĩa anh hùng.
Thật đáng tiếc vì cuối cùng tiểu binh phải chết. Nhưng nghĩ lại thì đó có lẽ là kết cục hợp lý nhất. Một con người nhỏ nhoi như tiểu binh muốn được sống bình an trong thời đại tàn khốc ấy là không thể. Trở về Lương quốc không có tù binh, chỉ một lá cờ rách nát, con đường duy nhất của hắn ta có lẽ là cái chết vì tội đào ngũ. Thế nên để Lương bị diệt vong trong tay nước Tần, và tiểu binh chết khi bảo vệ lá cờ của nước Lương có lẽ ý nghĩa hơn cả.
Một khía cạnh xuất sắc nữa bên cạnh chủ nghĩa nhân văn là sự hài hước. Dĩ nhiên phim của Thành Long thì không thể không có hài, cho dù tờ rơi nói rằng Tiểu binh “là một vai diễn rất khác của Thành Long”. Đã lâu lắm rồi tới rạp xem bạn mới thấy khán giả và chính mình cười nhiều như thế kể từ sau Catch me if you can. Sự hài hước trong phim không hề gượng ép hay thô thiển, mà nó tinh tế, vừa phải và rất tự nhiên. Một mũi tên tự động bật lên trên ngực tiểu binh, cách tiểu binh hành hạ và bắt sống tướng quân, những pha võ thuật hài hước sở trường trong phim của Thành Long. Mọi thứ đều vừa đủ, không quá lố bịch khiến cốt truyện bị ảnh hưởng, không quá phô diễn khiến khán giả khó chịu, những chí tiết hài hước ấy hòa tan vào giữa các tình tiết phim, tự nhiên như một phần câu chuyện, khiến nội dung phim đáng lẽ có phần nặng nề khô khan trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Thậm chí, mãi tới lúc ra về, con bạn nói đây là phim hài bạn mới biết genre comedy của nó.
Hạt sạn duy nhất của phim là nhân vật kỹ nữ. Xuất hiện được vài phút vài cảnh và bạn thú thật không biết để làm gì ngoài chuyện giọng hát cô ả cực kỳ hay, trong vắt luôn, hơn cả bài ending của Thiên Long bát bộ 2008.
(Trailer 2 của Đại binh tiểu tướng, có themesong của film)
Diễn xuất:
Không phải bạn thiên vị gì, nhưng diễn xuất của cả 2 diễn viên Thành Long và Vương Lực Hoành đều rất tốt. Cũng không biết Vương Lực Hoành đã diễn được bao nhiêu phim, nhưng với nghề nghiệp chính là ca sĩ, thì vai diễn Tướng quân của Vương Lực Hoành đã rất thành công, lột tả rất tốt sự thay đổi từ một vị tướng quân cầm quân xung trận sẵn sàng chết để không rơi vào tay địch tới một vị vương tử thấu triệt tình cảm gia đình và giá trị của hòa bình, vẻ mặt và hành động từ sự dữ dội và liều lĩnh trở nên bình an và cuối cùng được giải thoát khỏi gánh nặng chiến tranh. Trong khi Thành Long hoàn toàn trở thành một tên lính quèn ham sống sợ chết với bản chất của một gã nông điền có vẻ hèn nhát, nhưng khi cần lại tràn đầy sự cảm thông và nghĩa khí dám chết vì đất nước mình.
Bạn muốn viết một thứ gì đó rõ ràng hơn, giàu cảm xúc hơn, nhưng có lẽ những ấn tượng về Đại binh tiểu tướng quá mạnh mẽ và tràn ngập để có thể diễn đạt rõ ràng bằng lời. Chân thành mà nói, bạn khuyên ai có điều kiện nên đi xem bộ phim này một lần. Cho dù đã kinh qua Rồng tái sinh, xích bích, Giang sơn mỹ nhân, thập diện mai phục…, nhưng tới bộ phim này, bạn mới thật sự thừa nhận Trung Quốc đã có những bước tiến đáng kể để trở thành một nền điện ảnh lớn trên thế giới.
Thời gian qua bạn đã được xem nhiều bộ phim truyền hình có nhiều ý nghĩa, khiến bạn không thể không giới thiệu cho bạn bè cùng xem, như cuộc hành trình chinh phục ngược trái tim người mình yêu đầy cảm động trong Proposal Daisakusen, câu chuyện về anh chàng cảnh sát lưu manh Bĩ Tử trong Black & White, rồi câu chuyện tình yêu dễ thương của một cô nữ tu ngốc nghếch và anh chàng ca sĩ ngang ngược lập dị trong You’re so beautiful, mỗi bộ phim kết thúc đều để lại một khoảng trống lớn và sự tiếc nuối mênh mông trong lòng bạn. Nhưng mà tới mức đang xem dở đã phải ngồi viết thứ gì đó, thì ngoài Winter Sonata và The legend, tới giờ mới có bộ phim thứ 3: Hong Gil Dong.
Con đường tới với Hong Gil Dong của bạn cũng khá tình cờ. Trong tình cảnh hết phim và dư âm của You’re so beautiful, bạn quyết định cho Hàn Quốc một cơ hội thay đổi ấn tượng xấu với bạn, bằng cách tìm hiểu để xem một số phim Hàn Quốc. Sau một thời gian tìm hiểu, bạn ko biết phải đi đâu về đâu trong đống hổ lốn phim Hàn Quốc toàn giai xấu ở mọi nơi, quyết định đi theo giới thiệu, xem thử Iljimae và nhẫn nhịn với Lee Jun Ki. Nhưng bạn thật sự không nhẫn nhịn nổi, vì chỉ xem được khoảng 7 tập là hết đát, ko có động lực xem tiếp. Thay vào đó, trong quá trình tìm hiểu Iljimae, bạn được biết đến một đạo tặc khác nổi tiếng không kém: Khoái đao Hong Gil Dong. Thôi nhắm mắt đưa chân, xem thử có gì khác không vậy, dù sao 1 trog 3 nhân vật chính của Hong Gil Dong đã đóng vai Tae Kyung trong You’re Beautiful, ngắm lại cái vẻ đầu gấu của hắn cũng được.
Bạn yêu hòa bình, ghét chiến tranh, thích sự lãng mạn và màu tím thủy chung, nhưng bạn thích những trò bựa hơn hết thảy. Bạn từng điên đảo vì Ninja Loạn thị, từng mê đắm vì Cây đàn kỳ diệu, từng bấn loạn vì Gintama, và giờ đây hoàn toàn đổ nát trước Hong Gil Dong.
Vì sao à? Trong một bộ phim cổ trang bạn không thể tưởng tượng ra nhất là gì? Breakdance? Hip hop? Rap? DJ? Sàn nhảy với đèn mờ nhấp nháy? Hong Gil Dong có thừa cho bạn thưởng thức. Bạn nói “câm miệng” bằng tiếng Trung là gì? Là “shut up”. Đó chỉ là một góc rất nhỏ trong thế giới hài hước của Hong Gil Dong. Rất lâu, rất lâu rồi, cho dù đọc Gintama hay đọc lại Ninja loạn thị, bạn mới mất kiểm soát tới nỗi cười bò ra giữa trưa ở cơ quan. Khoái đao Hong Gil Dong mà, làm sao không Khoái được.
Mà nói Khoái đao thật ra ko đúng lắm, vì Hong Gil Dong chỉ sử dụng một cây gậy. Có lẽ vì cái từ khoái bổng không hay, còn không dùng từ “khoái” – tức là tự do tự tại phóng khoáng vân lai thì không phải phong cách của Hong Gil Dong, nên dùng tạm từ Khoái đao cho nổi.
Tạm giới thiệu về Hong Gil Dong thế này: là con rơi trong một gia đình quý tộc Hàn Quốc, cha là Phán quan trong triều đình (có lẽ ngang với thừa tướng), Hong Gil Dong là một đứa trẻ có cha mà không thể gọi cha, có nhà mà không thể vào bằng cổng chính. Giận cha mình đã có lần nói không muốn thấy mặt, Hong Gil Dong luôn muốn rời khỏi Hàn Quốc tìm tới Trung Quốc để tìm kiếm cuộc đời mới. Nhưng số phận đưa đẩy anh ta phải dính dáng vào một băng đạo tặc và một nhóm người phản loạn đang có âm mưu đảo chính lật đổ nhà vua đương trị vì, cộng thêm sự ghen ghét của mẹ con người vợ chính thức của cha mình, Hong Gil Dong đã trở thành một đạo tặc chuyên cướp của người giàu cho người nghèo, trừng trị tham quan và đi vào huyền thoại trong lịch sử Hàn Quốc.
Mới xem được có 4 tập, bài viết này bạn không nói về cốt truyện, ý nghĩa hay diễn xuất của các diễn viên, bạn chỉ không thể đừng được mà không kể ra câu chuyện về sự hình thành tính cách của Hong Gil Dong trong giai đoạn đầu câu chuyện.
Hong Gil Dong ấy, gã là người thế nào? Tương truyền ở khu phố ấy, Hong Gil Dong đi đến đâu thì bão táp nổi lên tới đó. Hàng quán dán biển cấm chó và Hong Gil Dong. Người ta chửi nhau bằng cách ví nhau là Hong Gil Dong. Bé gái đang khóc bị dọa gả cho Hong Gil Dong thì im bặt. Người ta thấy mặt Hong Gil Dong ở đâu thì trách xa tới đó. Ở cái khu phố nhỏ bé nơi Hong Gil Dong thường qua lại, gã chính là một đại dịch. Nơi duy nhất dám chứa chấp hắn chỉ có kỹ viện.
Thủa nhỏ gã cũng đâu có kém gì ai. Khi bắt đầu biết chuyện, hắn xin cha cho đi học chữ, để giống như cha mình, gánh vác đại sự quốc gia, nhưng phụ thân hắn chẳng chút thương tình, nói hắn là con một nô tì, không có đường thi khoa cử. Học chữ bất thành, gã lại xin cha cho học võ, để trở nên khỏe mạnh, xông pha bảo vệ đất nước. Cha hắn cũng chẳng nương tay mà trả lời: mi chỉ là con một nô tì, dù lập bao chiến công cũng không thể trở thành tướng quân. Gã phẫn uất hỏi cha: Đại nhân, vậy con nên làm gì? Cha hắn nói: mi chẳng phải làm gì hết.
Vậy là Hong Gil Dong, thông minh hiếu học tuyệt đỉnh bắt đầu một cuộc đời tự kỷ trong thân phận một kẻ vô dụng không biết làm gì cho đời. Nhưng từng đó không đủ để biến hắn thành Hong Gil Dong của lúc trưởng thành. Khi Gil Dong ý thức được mình chỉ là một nô lệ không có tự do, hắn đã gặp được một vị đại sư. Ông ta là một kỳ nhân, võ công cao cường, có lẽ có tài xem tướng. Ông ta cho rằng gặp được Gil Dong là định mệnh của ông và đã nhận thằng bé làm đệ tử để dạy dỗ nó trở thành một anh hùng.
Vấn đề là ông ta dạy những gì và thằng nhóc đệ tử của ông nhận được những gì?
Bài học đầu tiên, kéo dài suốt 3 năm, ông bắt Gil Dong phải lau dọn nhà cửa, quét tước sân vườn, giặt đồ nấu nướng cho ông. Điều đại sư muốn dạy cho Gil Dong là: “đạo dưỡng tâm” trước khi học võ công. Còn Gil Dong học được rằng: “chẳng có bữa cơm nào cho không”.
Khi bắt đầu dạy võ, ông lừa thằng nhỏ rơi vào tình huống treo chênh vênh trên một cành cây to, bên dưới là vực sâu với lời hứa sẽ đưa nó lên ngay, và rồi để nó rơi thẳng xuống dưới. Đó là bài học về sự nhẫn nại. Còn Gil Dong hiểu rằng: “trên đời này chẳng có ai đáng tin cậy cả”.
Một ngày, đại sư bắt Gil Dong xách nước từ dưới núi đổ vào vại nước. Thằng nhỏ xách mãi mà vại nước chưa đầy theo yêu cầu của sư phụ. Tới lúc nó kiệt sức thò đầu vào nhìn mới phát hiện vại bị thủng. Đó là bài học để cái tâm không còn tạp niệm, còn Gil Dong nhận thức sâu sắc rằng: dù có cố gắng tới đâu đi nữa thì cuối cùng cũng chẳng đạt được kết quả gì và trở nên buông thả.
Một lần khác, đại sư lệnh cho Gil Dong làm lễ đứng lên quỳ xuống liên tục trước bàn thờ phật, sau lưng một đám tiểu cô nương cứ đứng nhìn thằng nhỏ cười khúc khích. Thằng nhỏ ko kìm được cứ quay lại nhìn đám cô nương đó hoài, mỗi lần lại bị sư phụ nhắc nhở phải tập trung. Mãi một lúc lâu sau, cảm thấy đã đủ thấm thía, đại sư mới báo cho thằng nhóc đệ tử biết quần của nó rách một mảng lớn ở mông, khiến đám tiểu nữ kia thấy tức cười mà chỉ trỏ. Ông muốn nó hiểu rằng: trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ được bình tĩnh. Còn thằng nhỏ lại học được điều không còn biết liêm sỉ là gì, khiến nó sau này dù gặp bất cứ chuyện gì cũng không còn nghĩ tới chuyện liêm sỉ, dù là đá đít con gái giữa đường giữa chợ hay cướp không đồ đạc của người khác.
Và Hong Gil Dong trở thành Hong Gil Dong như ngày hôm nay, khiến cả phố phải đốt pháo ăn mừng khi hắn lên thuyền đi Trung Quốc.
Đấy, hôm nay chỉ giải tỏa bức xúc tới mức này thôi, toàn nhu cầu cá nhân, ai đọc được tới dòng này thì bạn cảm động lắm lắm.
Cũng chỉ là một hồn ma thôi, mà sao không thấy anh thì cô đơn đến thế? Cũng chỉ là một hồn ma thôi, mà khi ra đi, sao khiến nước mắt cậu rơi hoài. Ngay cả khi nước mắt đã cạn khô, nhớ, vẫn nhớ mãi về anh. Một đứa bé cứng đầu, hiếu động và môn cờ vây trầm lắng, cổ xưa đã bắt đầu có điểm chung, khi Fujiwara Sai xuất hiện.
Mái tóc thật dài, dáng hình yểu điệu, dễ khóc dễ cười, chỉ mang dáng vẻ của một người đàn ông trưởng thành khi ngồi trước bàn cờ vây – Sai hiện ra trước mắt Hikaru như thế. Cùng khóc, cùng cười, vừa là thầy, vừa là bạn, sự trưởng thành của Hikaru chính là những gì Sai để lại trước khi tan biến sau hơn 1000 năm tồn tại.
Tôi thường tự hỏi, nếu Hikaru chấp nhận chơi cờ vây trước khi thấu hiểu “đạo cờ” của Sai, liệu cậu có trưởng thành như sau này không? Cậu đã choáng váng trước những nỗ lực và sự bám sát của Akira sau mỗi nước đi của Sai qua tay cậu. Cậu cũng đã chứng kiến sai lầm và sự trả giá của Mitani khi dùng cờ vây để kiếm tiền. Và điểm nhấn, là sự khâm phục trước thái độ nghiêm túc của Kỳ nhân Toya đối với cờ vây. Không ai không động lòng trước sự nỗ lực, cũng không ai không học được cái đúng từ những sai lầm, không ai không khao khát tìm được một điều gì đó làm mục đích sống. Trước khi biết chơi, và để bắt đầu chơi, Hikaru đã biết tới “đạo”, con đường chân chính để đến với cờ vây. Trong bước đường trưởng thành đó, Sai luôn hiện diện.
Câu chuyện về sự trưởng thành của Hikaru là một câu chuyện thật đẹp, tràn đầy sự nỗ lực và những kỳ tích, những thứ luôn thu hút sự chú ý và say mê của con người. Chứng kiến con đường ấy của Hikaru, biết bao đứa trẻ đã tìm tới cờ vây, biết bao người đã mơ ước có được kỳ tích như cậu đã có: từ một câu lạc bộ cờ trong trường tiểu học, tới đội cờ đại điện cho nước Nhật; từ một đứa trẻ không biết gì về cờ vây, trở thành người gánh vác quá khứ để bước tới tương lai - Hikaru đã có những thay đổi thần kỳ. Tôi cứ mải mê dõi theo sự trưởng thành của cậu, đôi khi mỉm cười vì cái tính trẻ con chưa thể bỏ đi của cả hai người, đôi lúc hồi hộp trước những nước cờ với khao khát chạm tới đỉnh cao của “nước đi thần thánh”, rồi lại rớt nước mắt trước sự đau khổ của Hikaru khi mất đi Sai, và cuối cùng bàng hoàng trước cái lý do “kết nối quá khứ với tương lai” của cậu.
Khi ấy tôi chợt nhận ra, đó không phải một câu chuyện về cờ vây, đó là câu chuyện về cuộc sống. Nhân loại đã truyền lại biết bao nhiêu điều qua bao nhiêu thế hệ, giọng nói, chữ viết, văn hóa, “đạo”, cái thiện và cái ác. Sự tồn tại của nhân loại chính là tiếp nối, ý nghĩa của một cuộc đời cũng là sự tiếp nối. Có phải chúng ta đều rất may mắn không, khi chỉ mất 23 tập truyện để nhận ra điều đó, trong khi Sai đã mất tới hơn 1000 năm?
Tôi từng thấy nhiều giấc mơ trong manga, những giấc mơ tiên tri, những giấc mơ về quá khứ, những giấc mơ chất chứa nỗi lo lắng và cả sự mong đợi của con người. Nhưng có lẽ giấc mơ của Hikaru về Sai là đẹp nhất. Trong nỗi tuyệt vọng để sự hối hận chi phối bản thân mình, Hikaru đã từ bỏ cờ vây. Rồi cậu đã mơ một giấc mơ, trong giấc mơ ấy, Sai chẳng nỏi một lời, chỉ mỉm cười, nụ cười ý nghĩa hơn tất cả những điều anh đã nói trước đây cộng lại. Tôi nghĩ hình ảnh đẹp nhất của Hikaru no go chính là thời khắc Sai trao cây quạt của mình cho Hikaru với nụ cười hoàn toàn thanh thản và tin cậy ấy. Và kể từ lúc đó, Sai đã sống lại, và sống vĩnh viễn trong mỗi nước cờ của Hikaru.
Sai đã không còn là Fujiwara Sai, thầy dạy cờ của Thiên Hoàng hay hồn ma trong bàn cờ cổ, Sai là một thứ tinh thần bất diệt, nhiều khi bị con người bỏ quên trong sự quay cuồng và thực dụng của cuộc sống, nhưng vẫn không hề biết mất. Sai vẫn luôn tồn tại suốt cả ngàn năm qua, náu mình ở một nơi gần gũi nhất là bàn cờ vây, chờ đợi tìm được người giúp mình trở lại. Và ở đó, nếu bàn cờ vây là vật chất tồn tại bất diệt, thì Sai chính là tinh thần tồn tại bất diệt, tất cả vẫn không thay đổi dù bao năm tháng qua đi.
Vậy nên chắc sẽ cô đơn đấy, chắc sẽ có chút hụt hẫng khi nhớ tới linh hồn ấy đấy, nhưng Hikaru à, cậu phải đi tiếp con đường Sai đã mở ra cho cậu, nhất định là thế nhé, bởi vì chơi cờ vây “là để kết nối quá khứ với tương lai”, phải không?
Rằng thì là mà cùng với 2012, đây là bộ phim bạn chờ đợi suốt từ hồi tháng 8 để ra rạp xem. Vậy nên ngay sau khi nó được công chiếu, bạn phải vác thằng em bay ngay tới rạp để chiêm ngưỡng Phong – Vân – Vô Danh.
Ân tượng đầu tiên là kỹ xảo quá kinh khủng, ngay đầu phim vào muộn đã được chiêm ngưỡng Vạn kiếm quy tông của Vô danh. Cơ mà đẹp thì đẹp thiệt, nhưg vẫn chưa tới tầm của truyện, nhớ là trong truyện vạn kiếm bao trùm cả thiên hạ, phóng từ trên cao xuống, ở đây chỉ phóng ngang.
Ấn tượng thứ 2 là nhạc phim, quá đỉnh luôn, cái bài hát ở màn credit đầu phim. Cảm giác vừa tê tê buồn, lại vừa phê phê chất anh hùng, như hòa nhập vào cuộc đời đầy sóng gió và bi tráng của Phong – Vân. Oh, có vẻ là một bộ phim xem được.
Về nội dung, cũng chẳng có gì đáng nói, tương đối sát cốt truyện dù có lược bỏ vài phần khiến mạch truyện ko xuyên suốt như khi đọc truyện, ai ko đọc Phong Vân chắc khó mà thấy hay ho. Điểm hay của Phong Vân là ở sự khúc chiết về tư tưởng võ học, cái thần của võ đạo được phát ra từ mỗi chiêu thức, khiến người đọc dù chỉ xem hình vẫn hình dung một cách sống động tâm ý của người sử chiêu và liên hệ với cuộc đời tính cách của mỗi người. Phim sử dụng những ảo cảnh, những phân đoạn quay chậm, những điểm dừng hình rất chất, kết hợp với hiệu quả kỹ xảo 3D khiến tâm cốt của mỗi chiêu thức gần như được lột tả rất hoàn thiện, tạo hiệu quả thị giác rất tốt.
Phần hay nhất của phim có lẽ là đoạn Bộ Kinh Vân học bi thống mạc danh và sáng tạo ra Bá Kiếm. Đoạn hội thoại giữa thầy trò Vô danh – Bộ Kinh Vân sau khi Vô Danh khắc ra chữ Bá có vẻ buồn cười, nhưng sự chiết giải sau đó thật sự rất hay và sâu sắc. Cuộc chiến ảo của Phong – Vân phía cuối phim cũng là một trường đoạn công phu có chất lượng cao, đặc biệt việc tạo ra khói đen cho Bộ Kinh Vân và sương mù trắng cho Nhiếp Phong, sau đó là sương đen cho Nhiếp Phong nhập ma và quầng đỏ cho một Bộ Kinh Vân đã phát tiết cảm xúc, rực cháy như lửa.
Về diễn xuất của các diễn viên, cũng có vài điểm nhấn bên cạnh sự lấn át của kỹ xảo đối với kỹ thuật diễn. Bộ phim quy tụ một dàn diễn viên “khủng” trong làng kiếm hiệp: Quách Phú Thành, Trịnh Y Kiện, Hà Gia Kinh, Nhậm Đạt Hoa, Tạ Đình Phong, hứa hẹn những màn đấu võ kinh thiên động địa. Thực tế không khiến người xem thất vọng nhiều, chiêu thức đẹp, võ công cao cường, dù phim dùng nhiều kỹ xảo nhưng những pha cận chiến lại rất thực. Tuy vậy diễn xuất nội tâm của các nhân vật chỉ dừng ở mức hoàn thành vai diễn, ko thấy nhiều đột phá.
Điểm bạn nhớ nhất ở các diễn viên là hình ảnh Quách Phú Thành ngồi một mình, hay tay gác lên gối chống cằm, thanh Tuyệt Thế hảo kiếm cắm bên cạnh. Đây có thể gọi là hình ảnh kinh điển của Bất Khốc tử thần trong truyện. Quách Phú Thành đã phần nào cosplay Bộ Kinh Vân thành công. Có điều sự lạnh lùng của nhân vật cũng như bầu máu nóng trong con người lạnh lung ấy vẫn chưa thật sự tạo ra mâu thuẫn thật sự. Ở thời điểm lạnh lùng, Bộ Kinh Vân là một kẻ hoàn toàn lạnh lùng. Ở thời điểm cần tới cái tình, Quách Phú Thành cũng chỉ đưa ra được cái tình. Vậy nên vai diễn của Quách Phú Thành chưa thực sự toát ra được cái “thần” của Bộ Kinh Vân.
Vai Nhiếp Phong của Trịnh Y Kiện có khá hơn một chút. Thời khắc giao thoa giữa người và ma có sự phân biệt rõ ràng. Cũng có thể do hiệu quả hóa trag và hình ảnh đã giúp Trịnh Y Kiện diễn một Nhiếp Phong vật lộn giữa Nhân và Ma khá tốt. Có điều ko thể ko nói, Trịnh Y Kiện quá già dặn so với vai Nhiếp Phong. Đứng bên cạnh Quách Phú Thành, Trịnh Y Kiện giống sư huynh hơn là sư đệ. Ấn tượng của Nhiếp Phong dù ko tới mức đẹp như ngọc, nhưng mang hơi hướng của một lãng tử phong sương, khuôn mặt thanh thoát không biết tới tuổi già. Nhưng mà nhìn Trịnh Y Kiện thấy quá trưởng thành, quá lịch duyệt rồi, dù diễn hay nhưng cũng ko thấy được cái thần của Nhiếp Phong.
Ngay cả vai Vô Danh của Hà Gia Kính cũng vậy. Có lẽ thấy được cái chất anh hùng, bi thống của Vô Danh, nhưng nét "ẩn", phiêu phiêu của Vô Danh thì khó thấy. Bên cạnh một Nhiếp Phong tấm lòng nhân hậu luôn phải đấu tranh với dòng máu điên loạn trong mình, Vô Danh là một nhân vật bạn rất thích, bởi tư tưởng lánh đời ko màng danh lợi, nhưng lại vô cùng quan thiết với vận mệnh của võ lâm. Cái tâm thái tĩnh lặng, hiền hòa như mặt nước của Vô Danh thật sự là độc nhất vô nhị trong thế giới kiếm hiệp. Hà Gia Kinh chỉ thể hiện được một phần rất nhỏ trong con người ấy.
Hai nhân vật nữ ko cần nói tới, như truyền thống của truyện, họ chỉ làm nền và tạo ra và gánh chịu bi kịch. Đệ Nhị Mộng và Sở Sở trong phim chỉ có thể nói là: rất xinh. Sở Sở gần như từ truyện bước ra, còn Đệ Nhị Mộng như một mảnh ghép bên ngoài, hình như chẳng rõ ràng gì.
Tuyệt Tâm và Tuyệt Vô Thần chẳng có mấy đất diễn, đánh võ là được rồi.
Về trang phục, ngoại trừ Phong – Vân trang phục khá gần truyện, còn lại cứ làm sao ấy, vay mượn từ các phim võ hiệp Trung Quốc khác thời gian gần đây, đặc biệt là bộ giáp của Tuyệt Vô Thần, bạn ko nhớ lắm nhưg chắc ko tới mức hoành trág đến vậy. Quỷ Hổ thì nhìn một phát nhận ra ngay, dành được giải cosplay nhân vật giống nhất :D .
Túm lại sau khi xem xong phim này, có hơi giống lúc xem 2012: ko ấn tượng về nội dung, nhưg ấn tượng về hình ảnh và kỹ xảo. Cảm giác liên tục xuất hiện khi xem phim là: chừng nào có bản HD phải down về xem lại, phải tìm ra hình cap của cảnh này, bao giờ mới có phần 3…
Một bộ phim gây sốt không có nghĩa là một bộ phim hay. Sốt vì nó được PR quá tốt, nhưng PR không thể thay đổi bản chất của một bộ phim.
Ko biết có phải vì ko đạt được doanh thu như mong muốn trong 2 ngày cuối tuần trước với toàn bộ 10 phòng chiếu và cả chục ca chiếu/phòng/ngày hay ko, mà giữa tuần qua, megastar tiếp tục gửi thư mời khan giả xem New Moon. Ừ thì đi xem, cũng như đi xem HP vậy, bởi vì đã trót thì trét, đã thích truyện thì đành xem phim.
Có nhiều người rất thích tập 2 của truyện, hay nhất, nhưng đa số người đọc cho rằng New moon là tập truyện ko hay, ko đủ kiên nhẫn để đọc cho hết. Trên quan điểm cá nhân, tớ cho là tập này dù ko bằng phần đầu, nhưng không tới nỗi quá tệ, và hay hơn tập 3 (tập 4 chưa đọc). Điểm hay ở tập này là những diễn biến cảm xúc rất tinh tế của nhân vật Bella, sự biến chuyển từ niềm hạnh phúc tới nỗi đau tột cùng rồi bình tâm trở lại, từ hy vọng tới tuyệt vọng và chấp nhận, sự chuyển biến tình cảm dành cho Jacob, tình yêu không hề thay đổi mà càng sâu sắc hơn với Edward. Nhưng có lẽ, chính vì cảm xúc nội tâm sâu sắc là điểm nhấn duy nhất của truyện, nên phim New moon trở thành một bộ phim buồn tẻ từ đầu tới cuối. Kristen Stewart đã hoàn toàn không diễn tả được nội tâm của Bella, ngoại trừ việc gào thét vào mỗi đêm.
Giống y trường hợp xem từ HP 5 tới HP6. HP 5 còn có cảm xúc gì đó để chê, để rủa, nhưng HP 6 chẳng để lại điều gì, thậm chí xem xong cũng chẳng nhớ nổi mình đã xem cái gì. New moon cũng vậy, Twilight còn có chút gì để nhớ, như tình tiết những đoạn ký ức chảy tràn giữa 2 nhân vật chính ở gần cuối phim, hay khu rừng xanh ngắt với những thân cây cao vút và sâu thăm thẳm. New moon vẫn khu rừng đó, vẫn những nhân vật đó, nhưng chẳng còn chút cảm xúc gì. Cả bộ phim không có điểm nhấn, trôi qua nhạt nhòa, thậm chí sau 1 tiếng rưỡi xem phim, vẫn chưa thấy có gì gọi là sự kiện.
Thêm vào đó, nếu như Chạng vạng làm được điều gì đó để trở thành một bộ phim riêng bên cạnh truyện, Trăng non đã thất bại. Giống như chuỗi HP, nếu bạn ko đọc truyện, thật khó mà hiểu phim đang nói về cái gì, những tình tiết trong Trăng non cũng bị cắt xén, đi ngang về tắt như vậy. Hơn 2 tiếng phim chỉ là những cắt cảnh gọn gang vừa đủ để chúng ta biết Trăng non là một bộ phim làm từ truyện cùng tên, hoàn toàn chỉ còn là cái bóng của truyện.
Cũng muốn nói gì đó nhiều hơn 1 chút, nhưng bộ phim này chẳng để lại cảm xúc gì hơn để nói.