Thứ Tư, 20 tháng 12, 2006

Sei


(cảm hứng đến từ "Búp bê Nga"^^)

Cắt đi mái tóc vốn là sinh mạng của người con gái.

Từ bỏ hạnh phúc của một người phụ nữ để ở bên cạnh người đàn ông mà cô yêu.

Có đáng không?

Đó là cách duy nhất?

Để người đó đến khi chết vẫn không hay biết về tình yêu của mình.

Hay để bản thân mình có thể mỉm cười vì người đó mà chết.

Vậy có ý nghĩa gì?

Ngoài sự xót xa, tiếc nuối, ngoài vẻ đẹp thê lương chẳng chút niềm vui?

Tên đó ngốc lắm, nếu cô không nói ra, làm sao hắn hiểu.

Chợt nghĩ tới Sae.

Cô ấy có cái dũng khí mà Sei không có.

Dũng cảm để thổ lộ.

Cho dù bị từ chối.

Những việc Sae làm sau đó đã để lại một vết đau trong ký ức của Sou, nhưng ít ra anh biết mình đã được yêu.

Sei không có cái dũng cảm đó.

Sợ bị từ chối, sợ sẽ đánh mất người đó mãi mãi.

Hay chỉ vì cũng giống như Sou, cô ấy không đủ tự tin để vừa làm một người vợ, vừa làm một võ sĩ.

Ai cấm phụ nữ ra chiến trường?

Ai cấm Sei cùng Sou chiến đấu?

Hay phải chăng chính cô ấy tự giới hạn mình trong sự yếu đuối của đàn bà.

Dù lúc nào cũng tâm niệm mình phải trở thành một võ sĩ.

Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, cô gái ấy sao lại không ước ao có một gia đình, được làm vợ người mình yêu?

Bị từ chối là đáng sợ lắm sao?

Nếu lúc đó, thay vì cắt cổ tự tử, Sae tiếp tục theo đuổi Sou thì sao?

Cô ấy đã từ bỏ hy vọng quá sớm, đó chính là sai lầm.

Chính vì Sei là cỏ dại.

Cho dù bị dẫm đạp, cỏ dại vẫn mọc.

Cho dù bị từ chối, cô ấy vẫn có thể tiếp tục theo đuổi.

Cô ấy có thể hơn Sae là vì sự kiên trì ấy.

Tại sao không thử?

Chỉ vì thiếu niềm tin ở chính mình!

Thời gian thì cứ trôi qua.

Họ đi chung một con đường võ sĩ.

Họ yêu nhau

Nhưng một người ko có ý thức về tình yêu của mình

Một người thì không muốn thổ lộ.

Chỉ là chuyện tình đơn phương

Cho đến khi họ chết?

Ước muốn được bảo vệ người ấy

Ước muốn được chết vì người ấy.

Sei có nghĩ tới nỗi đau của người còn sống?

Okita sẽ chấp nhận để cô chết thay anh sao?

Hay Sei định dùng cái chết để đánh thức tình yêu của Sou.

Có đáng không?

Tên ấy ngốc, mà cô cũng ngốc chẳng kém.

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2006

Cloud - ngọn gió của sự lãng quên


"Này, ngươi chỉ là một con rối"
"Những cảm xúc của ngươi là giả dối"
"Những ký ức của ngươi không có thật"
Cloud là ai?
Anh hùng hay chỉ là một kẻ vô danh?
Jack
Tifa
Và Aerith
Quá khứ thực sự là dành cho ai?
Người con gái trong tim anh là ai?
Là Cloud hay Jack đã đau đớn đến tê liệt trước cái chết của Aerith?
Tôi hỏi, để rồi hài lòng với những câu trả lời "ko biết".
Có thực sự cần phải biết không?
Rằng anh thực sự là ai và tình yêu của anh ở đâu.
Mọi thứ rồi vẫn kết thúc ở thành phố của sự lãng quên.

Mây trôi đi bất tận
Chẳng kể thời gian
Dẫu những cơn mưa trên bầu trời dội xuống xoa dịu những vết đau
Cũng không xoa dịu sự cô đơn trong lòng chàng trai trẻ
Hạnh phúc có lẽ là ảo mộng
Anh không buồn nghĩ tới
Rồi nghĩ tới để lại đau hơn
Khi người đó mất.

Tifa là quá khứ yếu đuối của tuổi thơ
Là phần ký ức bình yên
Là phần cuộc đời Cloud đã mãi mãi đóng lại và từ bỏ.

Aerith kỳ lạ.
Cười hồn nhiên như một đứa trẻ ngay cả trong tình huống gian nan nhất.
Lương thiện hơn bất cứ ai.
Nếu có một ngày Cloud cười, đó hẳn là vì Aerith.

Ánh sáng thiên đường đã đưa Aerith ra đi.
Và Cloud lại là một người hùng cô độc
Lãng du như mây
Tên anh ở gần thiên đường
Để mỗi lần mưa rơi, Cloud lại đắm mình trong sự dịu dàng của mưa
Và Aerith vẫn ở bên anh, như chưa từng tạm biệt.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2006

Những sắc màu Kaze


Đó là màu trắng bạc của trăng.

Đêm của những kẻ dạ hành.

Đêm của những dự cảm.

Đêm của trăn trở, đêm của sự đổi thay.

Chỉ ánh sáng của trăng soi đường trong đêm tối.

Cây trở mình lay động dưới ánh nhìn của trăng, gió vô tình tự hỏi, trăng đêm nay sáng hơn đêm qua, hay ánh sáng của mặt trời đang mọc?

Gió sáng!

Trong đôi mắt nhìn bàng bạc của trăng, đêm chìm từ tăm tối sáng dần lên trước buổi bình minh.

Trăng chỉ là người nối tiếp, dẫn dắt những kẻ lạc lối trên đường.

Vẳng đâu đây tiếng gọi của đêm, hay tiếng thở than của vầng trăng rồi sẽ mất?

Đó là màu hồng phấn của người thiếu nữ.

Gió cuốn tung những cánh anh đào.

Thân phận nhỏ nhoi của cỏ dại từ lòng đất vươn lên.

Một cuộc sống bình thường hay một cuộc sống đầy biến động?

Em đã chọn cho mình niềm hạnh phúc thật mong manh.

Nhưng vẫn có thể cười, vì bên em là ánh sáng, là gió, là tự do, là khoảng không bao la của trời và đất.

Cỏ vẫn sống và trưởng thành, cao đến đâu, rộng bao xa, em vẫn là ngọn cỏ dịu dàng xoa trái tim của gió.

Gió thổi vút tận trời xanh, cỏ mỉm cười ngả mình nghiêng theo gió.

Tiếng cười là đôi mắt trong sáng của người thiếu nữ đang yêu?

Đó là màu xanh nhạt của chữ “Thành”.

Chữ Thành của trung thành.

Chữ Thành của trung thực.

Chữ Thành của thành công.

Chữ Thành trọn vẹn cũng nhiều khiếm khuyết.

Màu của bầu trời xanh rộng lớn, của hoài bão và ước mơ.

Những người tin vào chữ Thành ấy, đều đang kiếm tìm cho mình một lý do để tồn tại.

Cỏ trách cây rằng sao lấy hết phần ánh sáng và dinh dưỡng của cỏ, chẳng hay biết rằng nhờ có tán rợp của cây mà cỏ không bị nắng thiêu cháy.

Nhờ tấm thân vững chãi của cây mà cỏ không bị bão lốc cuốn bay.

Cỏ oán trách, mà chẳng hay cây là người bảo vệ.

Cỏ ơi, mi có thấy dáng hình cao lớn của cây đang hướng tới bầu trời?

Đó là màu xám, màu của sự trung thành đến mức tàn nhẫn của những Samurai.

Tĩnh lặng như mặt nước, hài hòa như thiên nhiên, dữ dội như lửa và lạnh như băng đá, họ chỉ hành động vì 2 điều: chủ nhân và danh dự, không có thiện hay ác, không có điều nên hay không nên làm.

Samurai chỉ làm bạn với thiên nhiên, bởi chỉ có cái mono no aware - nỗi buồn của vạn vật mới hiểu được họ.

Trong cái đắm say với tự nhiên, họ quên được bản thân mình, quên đi những sinh mạng lìa đời dưới cây kiếm của họ, quên đi sự lạnh lùng tàn nhẫn với con người.

Sammurai của Shinsengumi đã cởi mở hơn nhiều, đã trở thành “dùng kiếm để bảo vệ cái cần bảo vệ”, nhưng nỗi buồn thì vẫn vậy, phải dùng máu để mài gươm và dùng nụ cười để che đi nước mắt.

Con đường chẳng hề dễ dàng và chẳng mấy người còn lựa chọn cách sống đó – họ là thành lũy cuối cùng của quá khứ?

Câu trả lời mỗi người một khác

Thứ Hai, 20 tháng 11, 2006

Thám tử lừng danh Conan


Câu hỏi với tất cả những ai quan tâm tới bộ truyện này là: bao giờ nó chấm dứt.


 


Có hay không? Ai có thể khẳng định rằng nó hoàn toàn không hay?


 


Rằng vì đã từng xem pháo hoa 1,2 lần rồi, vì nó rực rỡ quá, lạ lẫm quá, lung linh quá, nên cho dù xem bao nhiêu lần vẫn thấy hay.


 


Cái gì nhiều thì nhàm. Pháo hoa năm nào cũng đốt và có đi xem cũng chỉ vì nó là pháo hoa, không phải lúc nào muốn được xem cũng có.


 


Giờ Conan giống như một thói quen, có thì xem vì chẳng mấy khi nó có, nhưng những háo hức, say mê ban đầu hoàn toàn không còn nữa.


 


Đã từng một thời Conan là hay nhất, nhưng sau đó có Kindaichi, Eiji, Thám tử Q, đều là những bộ truyện đã kết thúc trong hợp lý, cùng thể loại và đánh giá trung thực là hay hơn.


 


Không phải vì chờ mãi mà chẳng thấy Shin lớn lên, cứ mãi là thằng nhóc 6 tuổi.


Không phải vì những tình tiết lặp đi lặp lại, những vụ án càng lúc càng mang tính mua vui trong khi vấn đề chính chừng như không thể tiếp diễn.


 


Chỉ vì KĐ dùng nó để câu tiền độc giả quá nhiều nên ngán.


 


Đọc Conan giờ có cảm giác bố già Gosho đang bí, chừng như kết cục thì đã có nhưng bố không biết làm thế nào để bắc cầu cho ra cái kết đó một cách hợp lý. Khó, biết là khó. Glass mark cũng trong tình trạng tương tự với tuổi đời 30.


 


Chỉ mong một điều hết sức nhỏ nhoi: cho đến trước khi kết thúc, xin KĐ đừng có tái Conan lại lần nữa, thịt bò tái nhiều sẽ thành chín, nhưng chín chưa dừ thì ăn dai nhách.


 

Thứ Ba, 14 tháng 11, 2006

"Em yêu Raito"


“I don’t care how the world it is. Honey, what do u want?”

Yêu đến mù quáng.

Thứ con gái khiến ngọn cờ bình đẳng nam nữ nằm héo hon trước gió lớn thời cuộc.

Gió nói: phụ nữ thời nay là một cá thể độc lập với đàn ông.

Cười.

Nên hễ mù quáng khi yêu thì bị gọi là ngốc, bị người ta ghét.

Nhưng lại cười, chỉ có Hachi và Misa là hai cô gái có thể tin mình có thể gặp ngoài đời.

Misa bao nhiêu tuổi mà lúc nào cũng tươi cười, nhí nhảnh như một đứa trẻ con?

Đôi khi phát bực vì lời cửa miệng của cô ấy.

“Em yêu Raito”

Nhưng cơn bực chẳng kéo dài được lâu trước ánh mắt chân thành, tin cậy.

Trước sức mạnh tuyệt đối của niềm tin.

Yêu mù quáng.

Tin mù quáng.

Đôi lúc phải choáng váng, vì cô ấy vẫn nghe lời Raito, cho dù biết đó là sai.

Như thể cô ấy đang sống ký sinh.

Làm sao ngăn được Misa, cô gái nhỏ bé, trong một thế giới nhỏ bé chỉ có Raito?

Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên, khó hiểu quá chăng?

Một anh chàng điển trai, một ân nhân, một người hùng, một cuốn Death Note trong tay, quan trọng nhất, một trí tuệ siêu việt - trong cái thế giới vốn “rỗng tuếch” và giản đơn của Misa từ nay được lấp đầy, trong trái tim trẻ thơ cô đơn của Misa từ nay đã có Raito. Ngưỡng mộ, hàm ơn, tò mò, thích thú – là thứ hỗn hợp tạo ra “tình yêu của Misa”.

Raito là thứ hào quang lấp lánh và là thứ ánh sáng duy nhất của Misa.

Với, với tay lên, mong nắm được một cái gì đó.

Ánh sáng không có hình hài, Misa chỉ với vào khoảng không.

Vậy hài lòng tắm trong ánh sáng lạnh lùng đó, có lẽ cũng đủ.

“Em yêu Raito”

Nhưng Raito chỉ là một khối tim băng lạnh, không bao giờ, không bao giờ Raito là của Misa.

Vậy nên “tình yêu của Misa” là mù quáng.

Cô gái đáng thương.

Thiên sứ với đôi cánh bị nhuộm đen vì tình yêu với ác quỷ.

Hay Pandora vì tò mò mở chiếc hộp chứa tất cả những điều xấu xa của nhân loại.

Dưới đáy hộp là hy vọng.

Trái tim mê muội vì yêu vẫn không hề bị vẩn đục.

Đó là hạnh phúc của Misa.

Cùng là chủ nhân Death Note.

Đều là những kẻ bất hạnh khi “bị chọn”.

Nhưng Misa vẫn hạnh phúc hơn Raito.

Cho dù trong mắt người khác, cô ấy đáng thương.

Nhưng bản thân Misa thấy hạnh phúc.

Cô ấy đốt cháy sinh mạng của mình vì kẻ khác, nhưng vẫn mỉm cười.

Đó cũng là hạnh phúc.

Thứ hạnh phúc mà Raito không muốn tạo ra vì biết nó không dành cho anh.

Thứ hạnh phúc mà Kira coi thường và không bao giờ hiểu nổi.

Ngu ngốc, đáng thương, có gì không được?

“Em yêu Raito”

Một tiếng thở dài.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2006

Nụ cười


Nụ cười! Con người sống trên đời đa số cười nhiều hơn khóc, nhưng để nghĩ đến một ai đó chỉ thấy nụ cười thật ít.

Lúc nào cũng vậy, chỉ có em luôn cười trong trái tim tôi.

Cho dù đó là em trên đồi Poni đầy kỉ niệm cùng chàng hoàng tử trong mơ.

Hay là em trong cơn mưa tuyết lạnh buốt trở về Chicago.

Cho dù lúc đó em hạnh phúc

Hay đau khổ.

Cái đọng lại trong tôi vẫn là nụ cười của em.

Em đã khóc nhiều lần.

Khi mất Antony.

Khi mất Tery.

Khi mất Stea.

Hạnh phúc với em chẳng có gì trọn vẹn.

Nhưng trong mắt tôi em luôn mỉm cười.

Vì nụ cười của em thật đẹp, thật trong sáng.

Trong đôi mắt em khi đang cười không có chút vẩn đục của cuộc đời, không buồn bã, không cam chịu.

Em chấp nhận số phận và mỉm cười với nó.

Giống như mùa hè có nắng và mưa.

Mưa rửa sạch và nắng hong khô nỗi buồn thành những niềm hy vọng.

Hạnh phúc cũng mỉm cười.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2006

Trại súc vật - George Orwell - Lời tựa

Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và Ukraine. Sau hơn 50 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31.


Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell chúng tôi xin giới thiệu Trại Súc Vật, một trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông với lời tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Ukraine do chính Orwell viết. Lời tựa này được Orwell viết bằng tiếng Anh (bản gốc đã bị thất lạc), theo đề nghị của người tổ chức dịch thuật và phân phối tác phẩm này cho những người Ukraine chạy trốn chế độ Xô viết và sống trong các trại tạm cư do quân đội Anh và Mĩ thiết lập trên đất Đức. Lời tựa được dịch sang tiếng Ukraine dành cho lần xuất bản đầu tiên vào năm 1947, nhà sách Penguin Classic trong lần xuất bản năm 2000 đã cho dịch lại và in kèm với lời giới thiệu của Malcolm Bradbury.


Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt.


Phạm Minh Ngọc


 


Tôi được yêu cầu viết lời giới thiệu cho bản dịch tác phẩm Trại Súc Vật sang tiếng Ukraine. Tôi nhận thức rõ rằng tôi đang viết cho những độc giả mà tôi không có một chút hiểu biết nào và họ cũng chưa từng có cơ hội tìm hiểu tôi.


Trong lời giới thiệu chắc chắn các độc giả muốn tôi kể về quá trình sáng tác tác phẩm Trại Súc Vật, nhưng trước tiên tôi muốn tự kể về mình và những trải nghiệm đã dẫn tôi đến quan điểm chính trị hiện nay.


Tôi sinh năm 1903 tại Ấn Độ. Lúc đó cha tôi là một viên chức trong bộ máy hành chính Anh quốc ở đấy, gia đình tôi thuộc tầng lớp trung lưu gồm các quân nhân, tu sĩ, viên chức chính phủ, giáo sư, luật sư, bác sĩ v.v... Tôi tốt nghiệp trung học tại Eton, một trường công lập thuộc loại đắt nhất nước Anh thời đó. Nhưng tôi được vào học ở đây là do được nhận học bổng chứ cha tôi không thể có tiền để gửi tôi vào học những trường như thế.


Ngay sau khi thôi học (lúc đó tôi chưa đủ 20 tuổi) tôi đi Miến Điện và tham gia lực lượng cảnh sát Hoàng gia tại đây. Tôi làm ở đó năm năm. Việc này hoàn toàn không hợp với tôi, tôi trở nên căm ghét chủ nghĩa đế quốc mặc dù lúc đó tinh thần quốc gia ở Miến Điện chưa cao và quan hệ giữa người Anh và người Miến cũng chưa đến nỗi nào. Sau khi về lại Anh quốc vào năm 1927 tôi giải ngũ và bắt đầu viết văn: thời gian đầu không có thành công đáng kể nào. Trong những năm 1928-1929 tôi sống ở Paris, chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng không có nhà xuất bản nào chịu in (tôi đã xé bỏ hết). Những năm sau đó tôi phải tay làm hàm nhai, đôi khi phải nhịn đói. Chỉ từ năm 1934 tới nay tôi mới sống được bằng ngòi bút. Trong thời gian này tôi đã sống nhiều tháng giữa những người nghèo khổ và bất hảo, ăn xin và ăn cắp tại những khu vực tồi tệ nhất của những khu phố nghèo. Lúc đầu tôi phải nhập bọn với họ vì không có tiền, nhưng sau này tôi lại rất thích lối sống đó. Tôi đã dành nhiều tháng trời để nghiên cứu đời sống thợ mỏ ở miền Bắc nước Anh. Cho đến năm 1930 nói chung tôi vẫn chưa phải là người theo trường phái xã hội. Thực ra tôi vẫn chưa xác định được quan điểm chính trị của mình.Tôi trở thành người theo trường phái xã hội vì căm thù cách người ta đàn áp và khinh thường tầng lớp công nhân công nghiệp nghèo khổ chứ không phải vì thán phục xã hội theo kế hoạch hoá về mặt về mặt lí luận.


Tôi lập gia đình năm 1936. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra ngay trong những ngày đó. Hai vợ chồng tôi đều muốn đi Tây Ban Nha để chiến đấu cho chính phủ nước này. Chúng tôi sẵn sàng lên đường, sáu tháng sau đó, khi tôi viết xong cuốn sách mà tôi đã khởi sự từ trước. Tôi đã ở mặt trận Aragon gần Huesca sáu tháng liền, cho đến khi bị một phát đạn bắn tỉa xuyên qua cổ.


Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến những người ngoại quốc hoàn toàn không hiểu được cuộc đấu tranh giữa các đảng phái ủng hộ chính phủ Tây Ban Nha. Do một loạt sự tình cờ, tôi không tham gia các Binh đoàn Quốc tế như đa số những người ngoại quốc khác mà chiến đấu trong hàng ngũ của lực lượng vũ trang POUM, đảng của những người theo phái Troskist Tây Ban Nha.


Vì vậy giữa năm 1947 khi những người Cộng sản nắm được quyền kiểm soát (hay một phần quyền kiểm soát) chính phủ Tây Ban Nha và bắt đầu săn đuổi những người Troskist thì cả hai vợ chồng tôi đều trở thành nạn nhân. Chúng tôi may mắn đi khỏi được Tây Ban Nha, thậm chí không bị bắt lần nào. Nhiều bạn bè của chúng tôi đã bị bắn bỏ, một số bị tù đày nhiều năm, số khác thì mất tích.
Những cuộc săn người ở Tây Ban Nha xảy ra đồng thời với những cuộc thanh trừng vĩ đại ở Liên Xô. Thực chất những vụ thanh trừng ở Tây Ban Nha và ở Nga chỉ là một (gọi là âm mưu với bọn phát xít) và nếu nói về Tây Ban Nha thì tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đấy là những vụ kết án oan. Qua đó tôi đã nhận được một bài học đắt giá: nó dạy tôi rằng bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị dễ dàng lèo lái dư luận ở những nước dân chủ đến mức nào.


Hai vợ chồng tôi đã chứng kiến những người vô tội bị quẳng vào nhà giam chỉ vì họ bị nghi là không theo đường lối chính thống. Khi trở về Anh chúng tôi thấy rất nhiều người thạo tin và nhạy bén tin vào những bản án kì quặc về âm mưu phản bội và phá hoại do báo chí tường thuật từ những vụ án ở Moscow.


Và tôi thực sự hiểu ra ảnh hưởng tiêu cực của huyền thoại Xô viết đối với phong trào xã hội ở phương Tây.


Đến đây tôi xin dừng lại một chút để trình bày thái độ của tôi đối với chế độ Xô viết.


Tôi chưa đến thăm Nga bao giờ và hiểu biết của tôi về nước Nga chỉ là kiến thức do thu lượm được từ báo chí, sách vở. Ngay cả nếu có đủ sức tôi cũng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô: tôi sẽ không kết án Stalin và các cộng sự của ông ta chỉ vì những phương pháp dã man và phi dân chủ của họ. Có thể là trong những điều kiện như thế, dù có muốn, họ cũng không thể hành động khác được.


Nhưng mặt khác đối với tôi điều cực kì quan trọng là nhân dân Tây Âu phải nhận rõ chế độ Xô viết như nó đang là. Từ năm 1930 tôi nhìn thấy rất ít bằng chứng là Liên Xô đang tiến đến cái có thể thực sự gọi là Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, có những chỉ dấu rõ ràng rằng xã hội ấy đang chuyển hoá thành xã hội có tôn ti trật tự và những người cầm quyền, cũng như mọi giai cấp cầm quyền khác, chẳng thấy có lí do gì để rời bỏ quyền lực đã làm tôi choáng váng. Hơn nữa công nhân và trí thức ở những nước như Anh quốc lại không hiểu rằng Liên Xô hôm nay đã khác hẳn Liên Xô năm 1917. Một phần vì họ không chịu hiểu (nghĩa là họ muốn tin rằng có một nước xã hội chủ nghĩa quả thực đang tồn tại ở đâu đó), một phần vì họ quen với cuộc sống tự do và ôn hoà, họ không biết gì về chủ nghĩa toàn trị.


Cần phải nhớ rằng nước Anh chưa phải là nước hoàn toàn dân chủ. Đây vẫn là nước tư bản với những đặc quyền đặc lợi giai cấp (ngay cả bây giờ, sau cuộc chiến tranh có xu hướng làm cho mọi người bình đẳng hơn) và sự chênh lệch gay gắt về tài sản. Nhưng dù sao ở đây người dân đã có cuộc sống không có những xáo trộn lớn suốt mấy trăm năm qua, luật pháp tương đối công chính, tin tức và số liệu của chính quyền có thể tin được và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là người ta có thể giữ và ủng hộ quan điểm của thiểu số mà không bị bất kì đe dọa chết người nào. Trong hoàn cảnh như vậy người ta không thể nào hiểu được những hiện tượng như trại tập trung, cưỡng ép di cư hàng lọat, bỏ tù không cần xét xử, kiểm duyệt báo chí v.v... Tất cả những điều đọc được trên báo chí về những nước như Liên Xô được tự động phiên dịch sang các thuật ngữ của nước Anh và họ ngây thơ tin ngay những điều dối trá của bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị đó. Cho đến năm 1939, và cả sau này nữa, đa số người Anh không hiểu được thực chất chế độ phát-xít ở Đức và nay họ cũng có ảo tưởng tương tự như vậy đối với Liên Xô.


Điều đó đặc biệt có hại đối với phong trào Xã hội Anh và gây hậu quả xấu đối với chính sách đối ngoại của nước Anh. Theo tôi, tin rằng nước Nga là nước xã hội chủ nghĩa và mọi hành vi của những người cầm quyền ở đó đều nên được tha thứ, nếu không nói là phải theo là sự phản bội đối với lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy trong mười năm gần đây tôi đã đi đến kết luận rằng việc phá tan huyền thoại Xô viết là việc làm vô cùng cần thiết nếu ta muốn tái sinh phong trào xã hội chủ nghĩa.


Ngay sau khi trở về từ Tây Ban Nha tôi đã nghĩ đến việc vạch trần huyền thoại Xô viết dưới dạng một câu chuyện dễ hiểu và dễ dịch sang các thứ tiếng khác. Nhưng chi tiết của câu chuyện vẫn chưa có, cho đến một hôm (khi đó tôi sống ở nông thôn) tôi trông thấy một cậu bé, khoảng mười tuổi, đang đánh một chiếc xe ngựa to trên một con đường hẹp, cứ mỗi lần con ngựa định quay ngang là cậu bé lại ra roi. Trong đầu tôi bỗng loé lên ý nghĩ rằng nếu loài vật nhận thức được sức mạnh của chúng thì con người không thể nào còn điều khiển được chúng nữa và con người bóc lột loài vật cũng hệt như các tầng lớp hữu sản bóc lột giai cấp vô sản vậy.


Tôi tiến hành phân tích học thuyết của Marx trên quan điểm của súc vật. Đối với loài vật thì rõ ràng là luận điểm về đấu tranh giai cấp giữa người với người chỉ là một sự lừa mị, vì mỗi khi cần bóc lột súc vật là tất cả mọi người lại đoàn kết với nhau để chống lại chúng: cuộc đấu tranh thực sự là cuộc đấu tranh giữa loài vật và loài người. Từ đây việc tạo ra tác phẩm không còn khó nữa. Tôi bận nhiều việc khác, không có thì giờ, cho nên mãi đến năm 1943 tôi vẫn chưa bắt đầu viết truyện này và cuối cùng tôi đã đưa thêm một số sự kiện, thí dụ như Hội nghị Teheran là sự kiện xảy ra trong thời gian tôi viết. Như vậy là đường hướng chính của câu chuyện đã nằm trong đầu tôi suốt sáu năm trước khi tôi thực sự đưa nó lên giấy.


Tôi không có ý bình luận tác phẩm, nếu tác phẩm không có sức thuyết phục thì có nghĩa là tác phẩm ấy đã thất bại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai điểm: thứ nhất, mặc dù nhiều tình tiết được lấy từ lịch sử của cuộc Cách mạng Nga nhưng chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và trật tự đã được thay đổi cho cân đối với cốt truyện. Điểm thứ hai thường bị các nhà phê bình bỏ qua, nguyên nhân có thể là vì tôi chưa nhấn đúng mức. Nhiều độc giả sau khi đọc xong có cảm tưởng rằng cuốn sách đã dừng lại ở sự hoà giải hoàn toàn giữa loài lợn và loài người. Nhưng đấy không phải là ý của tôi, ngược lại, tôi cố ý kết thúc ở chỗ chỉ rõ sự bất hoà, vì tôi viết chuyện này ngay sau Hội nghị Teheran, mọi người lúc đó đều nghĩ rằng Hội nghị này sẽ thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể giữa Liên Xô và phương Tây. Cá nhân tôi không tin rằng quan hệ tốt đẹp đó có thể kéo dài được lâu, và như các sự kiện cho thấy, tôi đã không lầm.


Tôi không biết phải nói gì thêm nữa. Nếu độc giả nào quan tâm đến cá nhân tôi thì tôi xin nói thêm rằng tôi đã goá vợ, hiện tôi đang sống với con trai ba tuổi, tôi là nhà văn chuyên nghiệp nhưng từ khi bắt đầu cuộc chiến thì tôi làm việc chủ yếu như một phóng viên.


Tôi thường viết cho tờ Tribune, một tờ tuần báo đại diện cho phái tả của đảng Lao động. Các cuốn sách sau đây của tôi có thể được độc giả quan tâm: Những ngày ở Miến điện (câu chuyện về Miến điện), Tưởng nhớ Catalonia (viết về những trải nghiệm của tôi trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha) và tác phẩm Phê bình (các bài viết về văn học đương đại Anh, được viết chủ yếu từ quan điểm xã hội học hơn là quan điểm thuần tuý văn chương).


1947

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2006

Crying out of love, in the center of the world


Dành tặng cho những ai yêu câu chuyện này như tôi

After I met Aki… Imised a lot of chances to be with her, but, when I look back, it seems as through she was always beside me. It has taken me a long time to accept the reality thatt… Aki died.

Chỉ là một trò chơi, để cậu bé có thể thắng cô bạn mình, để có một chiếc đài. Chỉ là đùa thôi, cho dù cậu nói rằng, cô bạn ấy bị bệnh, sắp chết.

Một người đàn ông khi đã già, vẫn muốn thực hiện mong ước của mình, được chôn bên cạnh người ông đã yêu, người chỉ vì chiến tranh, ông đã mất, dẫu cho thân thể của bà chỉ vỏn vẹn một lóng xương.

Cháu ông không hiểu, sao có thể yêu một người lâu đến thế? Năm mươi năm có gì là lâu, khi tình yêu là sự bất tử.

Rồi đến 1 ngày,cậu sẽ rõ.

Hurry up and come back! Hurry and come back to my world! We have to kiss a lot, and hug each other again.

Giữa căn phòng bệnh trắng toát vô trùng, cô bé vật vã với cơn bệnh, chỉ một niềm mong ước, được đặt chân tới Uluru. Chỉ là một hình ảnh bắt gặp tình cờ, nơi đầy cát, gió và đá sỏi đó đã trở thành trung tâm thế giới của cả 2 người.

I’m so fortunate that it makes me scared! Thinking that if i were to lose the happiness i have now… that darkness in a deep night makes me uneasy.

Bên ngoài căn phòng bệnh, cậu bé cảm nhận được bóng tối. Sẽ ra sao nếu không còn cô? Ánh sáng tỏa ra từ nụ cười trong trẻo, làm sao có thể biến mất.

It’s really easy for us to miss each other in this big, big world…

Cháu hiểu vì sao ông yêu bà ấy thế.

Tiếng mưa như giấu vào lòng những nỗi lo sợ mơ hồ. Họ nắm chặt tay nhau, không tin rồi một ngày đôi bàn tay kia sẽ rời xa mãi mãi.

Với Saku, cậu chưa từng sống trong cuộc đời không có hơi thở của Aki, cho đến ngày cô mất.

In order to keep myself from crying, i keep telling myself, if i cry i’ll turn all of the little hope that i have into dust. And to myself, who know that there’s no hope right from the start no way of being swallowed by the darkness alone. Regret, hatred, i kept crying.

Cô bé ấy đã mỉm cười đến phút cuối cùng, dù sao, cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc.

I can only see the sky and the ocean so quiet. It’s as if we were at the heart of the world! Lifting our heads and looking at the sky like this…

Một trái tim suốt 17 năm chưa lành lại, bởi mỗi lúc nhìn lên bầu trời, lại nghe tiếng Aki.

Everytime i cry for Aki into the sky, it seems like i can hear Aki’s bits answering me : Saku-kun. I can be sure i won’t miss her, that’s why then i cry out Aki’s name

Và tình yêu không chết.

Crying out of love, in the center of the world


Dành tặng cho những ai yêu câu chuyện này như tôi

After I met Aki… Imised a lot of chances to be with her, but, when I look back, it seems as through she was always beside me. It has taken me a long time to accept the reality thatt… Aki died.

Chỉ là một trò chơi, để cậu bé có thể thắng cô bạn mình, để có một chiếc đài. Chỉ là đùa thôi, cho dù cậu nói rằng, cô bạn ấy bị bệnh, sắp chết.

Một người đàn ông khi đã già, vẫn muốn thực hiện mong ước của mình, được chôn bên cạnh người ông đã yêu, người chỉ vì chiến tranh, ông đã mất, dẫu cho thân thể của bà chỉ vỏn vẹn một lóng xương.

Cháu ông không hiểu, sao có thể yêu một người lâu đến thế? Năm mươi năm có gì là lâu, khi tình yêu là sự bất tử.

Rồi đến 1 ngày,cậu sẽ rõ.

Hurry up and come back! Hurry and come back to my world! We have to kiss a lot, and hug each other again.

Giữa căn phòng bệnh trắng toát vô trùng, cô bé vật vã với cơn bệnh, chỉ một niềm mong ước, được đặt chân tới Uluru. Chỉ là một hình ảnh bắt gặp tình cờ, nơi đầy cát, gió và đá sỏi đó đã trở thành trung tâm thế giới của cả 2 người.

I’m so fortunate that it makes me scared! Thinking that if i were to lose the happiness i have now… that darkness in a deep night makes me uneasy.

Bên ngoài căn phòng bệnh, cậu bé cảm nhận được bóng tối. Sẽ ra sao nếu không còn cô? Ánh sáng tỏa ra từ nụ cười trong trẻo, làm sao có thể biến mất.

It’s really easy for us to miss each other in this big, big world…

Cháu hiểu vì sao ông yêu bà ấy thế.

Tiếng mưa như giấu vào lòng những nỗi lo sợ mơ hồ. Họ nắm chặt tay nhau, không tin rồi một ngày đôi bàn tay kia sẽ rời xa mãi mãi.

Với Saku, cậu chưa từng sống trong cuộc đời không có hơi thở của Aki, cho đến ngày cô mất.

In order to keep myself from crying, i keep telling myself, if i cry i’ll turn all of the little hope that i have into dust. And to myself, who know that there’s no hope right from the start no way of being swallowed by the darkness alone. Regret, hatred, i kept crying.

Cô bé ấy đã mỉm cười đến phút cuối cùng, dù sao, cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc.

I can only see the sky and the ocean so quiet. It’s as if we were at the heart of the world! Lifting our heads and looking at the sky like this…

Một trái tim suốt 17 năm chưa lành lại, bởi mỗi lúc nhìn lên bầu trời, lại nghe tiếng Aki.

Everytime i cry for Aki into the sky, it seems like i can hear Aki’s bits answering me : Saku-kun. I can be sure i won’t miss her, that’s why then i cry out Aki’s name

Và tình yêu không chết.

Crying out of love, in the center of the world


Dành tặng cho những ai yêu câu chuyện này như tôi

After I met Aki… Imised a lot of chances to be with her, but, when I look back, it seems as through she was always beside me. It has taken me a long time to accept the reality thatt… Aki died.

Chỉ là một trò chơi, để cậu bé có thể thắng cô bạn mình, để có một chiếc đài. Chỉ là đùa thôi, cho dù cậu nói rằng, cô bạn ấy bị bệnh, sắp chết.

Một người đàn ông khi đã già, vẫn muốn thực hiện mong ước của mình, được chôn bên cạnh người ông đã yêu, người chỉ vì chiến tranh, ông đã mất, dẫu cho thân thể của bà chỉ vỏn vẹn một lóng xương.

Cháu ông không hiểu, sao có thể yêu một người lâu đến thế? Năm mươi năm có gì là lâu, khi tình yêu là sự bất tử.

Rồi đến 1 ngày,cậu sẽ rõ.

Hurry up and come back! Hurry and come back to my world! We have to kiss a lot, and hug each other again.

Giữa căn phòng bệnh trắng toát vô trùng, cô bé vật vã với cơn bệnh, chỉ một niềm mong ước, được đặt chân tới Uluru. Chỉ là một hình ảnh bắt gặp tình cờ, nơi đầy cát, gió và đá sỏi đó đã trở thành trung tâm thế giới của cả 2 người.

I’m so fortunate that it makes me scared! Thinking that if i were to lose the happiness i have now… that darkness in a deep night makes me uneasy.

Bên ngoài căn phòng bệnh, cậu bé cảm nhận được bóng tối. Sẽ ra sao nếu không còn cô? Ánh sáng tỏa ra từ nụ cười trong trẻo, làm sao có thể biến mất.

It’s really easy for us to miss each other in this big, big world…

Cháu hiểu vì sao ông yêu bà ấy thế.

Tiếng mưa như giấu vào lòng những nỗi lo sợ mơ hồ. Họ nắm chặt tay nhau, không tin rồi một ngày đôi bàn tay kia sẽ rời xa mãi mãi.

Với Saku, cậu chưa từng sống trong cuộc đời không có hơi thở của Aki, cho đến ngày cô mất.

In order to keep myself from crying, i keep telling myself, if i cry i’ll turn all of the little hope that i have into dust. And to myself, who know that there’s no hope right from the start no way of being swallowed by the darkness alone. Regret, hatred, i kept crying.

Cô bé ấy đã mỉm cười đến phút cuối cùng, dù sao, cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc.

I can only see the sky and the ocean so quiet. It’s as if we were at the heart of the world! Lifting our heads and looking at the sky like this…

Một trái tim suốt 17 năm chưa lành lại, bởi mỗi lúc nhìn lên bầu trời, lại nghe tiếng Aki.

Everytime i cry for Aki into the sky, it seems like i can hear Aki’s bits answering me : Saku-kun. I can be sure i won’t miss her, that’s why then i cry out Aki’s name

Và tình yêu không chết.

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2006

Trại súc vật - George Orwell - Chương 10

Nhiều năm đã trôi qua. Xuân đi, đông lại, cuộc đời loài vật như bóng câu qua cửa sổ. Chỉ còn Benjamin, Bà Mập, con quạ Moses và một vài con lợn là còn nhớ được "ngày xưa", khi chưa Khởi Nghĩa.



Muriel đã chết. Bluebell, Jessie và Pincher cũng không còn. Ông Jones cũng chết rồi, chết trong trại tế bần dành cho người nghiện. Không ai nhắc đến Tuyết Tròn nữa. Chỉ có vài con vật còn nhớ Chiến Sĩ. Bà Mập đã thành một con ngựa già béo phị, chân chậm, mắt mờ. Nó đã quá tuổi hưu hai năm, nhưng thực ra, đã có con nào được hưu trí đâu. Không còn ai nhắc đến chuyện ngăn một mảnh đất cho những con già cả nữa. Napoleon đã thành một con lợn đực to sụ, phải nặng tạ rưỡi là ít. Chỉ Điểm cũng béo lắm, mắt híp lại, gần như không trông thấy gì. Chỉ có Benjamin là vẫn như xưa, tuy râu có trắng ra và sau khi Chiến Sĩ mất thì càng tỏ ra lầm lì, ít nói hơn.


Trại Súc Vật có thêm nhiều thành viên mới, tất nhiên là không nhiều như chúng nghĩ lúc đầu. Một số con được sinh ra ngay tại đây, đối với chúng, cuộc Khởi Nghĩa chỉ là một truyền thống mù mờ, được truyền khẩu cho nhau. Một số được mua từ nơi khác về, những con này chưa từng nghe ai nói chuyện đó trước khi đến đây. Ngoài Bà Mập, trại còn có thêm ba con ngựa nữa. Đấy là những con to, khỏe, chăm làm, tốt bụng nhưng ngu lắm. Không con nào thuộc quá chữ B. Chúng tin tưởng tuyệt đối vào Súc Sinh Kinh và những câu chuyện về cuộc Khởi Nghĩa, đặc biệt là những chuyện do Bà Mập, mà chúng coi như mẹ, kể lại; nhưng có vẻ như chúng cũng chẳng hiểu mô tê gì.


Trang trại được tổ chức tốt và ngày một phồn vinh hơn; chúng còn mở rộng thêm bằng cách mua của Pilkington hai khu đất nữa. Cối xay gió đã hoàn thành, chúng mua được cả máy đập lúa, máy nâng hạ và còn xây được thêm nhiều toà nhà. Whymper cũng mua được cho mình một cỗ xe nhỏ. Chúng không lắp máy phát điện lên cối xay gió mà dùng nó để xay xát, nhờ thế chúng kiếm được khối tiền. Chúng lại đang xây một cối xay gió nữa, sẽ lắp máy phát điện ở đấy, chúng bảo thế. Nhưng những thứ xa xỉ như đèn điện, nước nóng, tuần làm việc ba ngày mà chúng từng mơ mộng thời còn Tuyết Tròn thì không được nhắc đến nữa. Napoleon từng tuyên bố rằng những tư tưởng đại loại như vậy là trái hoàn toàn với tinh thần của Súc Sinh Kinh. Hạnh phúc chân chính, nó bảo, là lao động hăng say và sống đạm bạc, tiết kiệm.


Trang trại giàu có thêm, nhưng ngoại trừ lũ lợn và chó ra, đời sống của các con khác thì vẫn như xưa. Cũng có thể một phần là do có nhiều lợn và chó quá. Bọn này cũng làm việc, dĩ nhiên là theo cách của mình. Chỉ Điểm giải thích không mệt mỏi rằng tổ chức và kiểm tra công tác của trại là những việc phải làm thường xuyên, liên tục. Mà những giống khác đâu có đảm đương được, việc này cần nhiều trí thông minh lắm. Thí dụ, Chỉ Điểm bảo rằng lũ lợn mất rất nhiều công sức vào việc soạn những cái gọi là "tài liệu", "dữ liệu", "báo cáo", "biên bản", "ghi nhớ". Đấy là những tờ giấy to, viết đầy chữ và sau khi viết xong thì đem vào lò đốt. Nhờ thế mà trang trại mới được phồn vinh như ngày nay đấy, Chỉ Điểm thường nói như vậy. Dù sao mặc lòng, những thứ ấy chẳng thể làm lũ chó, lợn ấy no được, mà chúng phàm ăn lắm.


Cuộc sống của những con khác thì vẫn như xưa. Ngày chúng thường bị đói, đêm chúng ngủ trên ổ rơm, nước thì uống ngay ở dưới ao, làm việc ngoài đồng trống, mùa đông thì mất ngủ vì rét, mùa hè thì khổ vì ruồi. Thỉnh thoảng những con có tuổi cố nhớ lại xem nay đời sống của chúng có khá hơn ngay sau Khởi Nghĩa, khi chúng vừa đuổi lão Jones đi, hay không. Nhưng chúng không nhớ nổi. Không có gì cho chúng so sánh: trong đầu chúng chỉ có mỗi những số liệu của Chỉ Điểm, những con số luôn luôn chứng tỏ rằng mọi thứ đều được cải thiện, đều tốt thêm một bước mỗi ngày. Thôi thì đành vậy vả lại chúng cũng chẳng có nhiều thời gian để mà suy nghĩ lung tung. Chỉ có Benjamin già nua là khẳng định rằng nó nhớ hết, nhớ đến từng chi tiết mọi việc đã qua và biết rõ rằng chúng chưa bao giờ khổ hơn cũng chẳng bao giờ được sướng hơn, vẫn là đói, là bán mặt cho đất bán lưng cho trời, là bị loè bịp; qui luật cuộc đời vốn là như thế, nó thường bảo như vậy.


Dù sao chúng vẫn cứ hi vọng. Hơn thế nữa, chúng còn luôn tự hào được là công dân của Trại Súc Vật. Trong nước này, mà là nước Anh hẳn hoi đấy nhé, đây là trang trại duy nhất của súc vật và do súc vật quản lí! Tất cả mọi con vật, từ những con nhỏ nhất cho đến những con mới được mua từ cách xa cả chục cây số về, đều tự hào như thế. Nhất là khi chúng nghe thấy tiếng súng nổ, khi trông thấy lá cờ xanh tung bay là tim chúng lại đập rộn rã, khi ấy, dù đang nói chuyện gì chúng cũng quay lại đề tài về những năm tháng hào hùng, về việc lật đổ lão Jones, về việc thiết lập Bảy Điều Răn và về những trận chiến đấu oanh liệt chống lũ người xâm lược. Chúng cũng không quên nhắc nhở nhau những kì vọng thuở ban đầu. Chúng tin rằng lời tiên tri của Thủ Lĩnh già về ngày thành lập Nước Cộng Hòa Súc Vật trên toàn lãnh thổ Anh quốc, ngày con người bị tống khứ khỏi sứ sở này nhất định sẽ tới. Ước mơ của chúng sẽ thành hiện thực, nhất định ngày đó sẽ tới, dù còn lâu, dù rằng tất cả những con đang sống hiện nay sẽ không được chứng kiến, nhưng ngày đó nhất định sẽ tới. Chúng cũng không quên bài "Súc Sinh Anh quốc", con nào cũng biết hát bài này, nhưng chúng chỉ dám hát thầm với nhau mà thôi. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, dù không phải tất cả ước mơ của chúng đều được thực hiện, nhưng trong thâm tâm chúng biết rằng chúng là những con vật đặc biệt. Dù chúng chưa được no, nhưng chúng không phải làm để nuôi bọn người tàn độc; dù chúng còn phải lao động vất vả, nhưng đấy là chúng làm cho chính mình. Không con nào đi hai chân, không còn quan hệ chủ tớ. Tất cả đều bình đẳng.


Một hôm, đấy là đầu mùa hạ, Chỉ Điểm bỗng ra lệnh cho lũ cừu đi theo nó ra cánh đồng bỏ hoang bên ngoài trại, nơi có cả một rừng bạch dương non. Lũ cừu ở đó cả ngày, tha hồ nhai lá, dĩ nhiên là dưới sự chỉ đạo của Chỉ Điểm. Tối hôm đó Chỉ Điểm quay lại trang trại một mình, hôm đó thời tiết tốt nên nó bảo lũ cừu ngủ ngay ngoài đồng cho mát. Chúng ở lại đó suốt một tuần liền. Ngày nào Chỉ Điểm cũng ra với lũ cừu. Theo như nó nói thì nó đang dạy lũ cừu một bài hát mới mà yên tĩnh thì học mới mau "vào".


Một chiều, hôm ấy lũ cừu đã học xong và trở về rồi, trong khi cả bọn đang quay về sau một ngày lao động thì chúng bỗng nghe thấy tiếng ngựa kêu thất thanh từ phía trại vọng lại. Quá hỏang sợ, tất cả lập tức đứng như trời trồng. Đấy là tiếng kêu của Bà Mập. Nó lại kêu lên lần nữa, tất cả lập tức phóng thật nhanh vào sân trại để xem có chuyện gì. Và chúng nhìn thấy chính cái điều đã làm Bà Mập hoảng loạn.


Đấy là một con lợn đang bước đi bằng hai chân sau.


Vâng, chính là Chỉ Điểm đang đi. Có vẻ vụng về, dĩ nhiên rồi, một phần vì chưa quen, một phần vì quá nặng, nhưng nó vẫn giữ được thăng bằng và đi từ bên này sang tận bên kia sân. Một lúc sau thì từ cửa chính ngôi nhà cả đàn lợn bước ra, tất cả, không trừ con nào, đều đi bằng hai chân sau. Một số con bước đi một cách tự tin, một số con còn lảo đảo, giá có cái ba toong thì vững hơn, nhưng tất cả đều đi một vòng quanh sân mà không con nào bị ngã. Cuối cùng là tiếng chó sủa dữ dội, tiếng gà gáy vang rền và Napoleon bước ra, lưng thẳng tắp, dáng oai vệ, nó nhìn khắp lượt, xung quanh tíu tít bày cừu.


Chân trước nó cầm một cái roi to.


Xung quanh lặng ngắt như tờ. Ngạc nhiên pha lẫn hoảng sợ, lũ súc vật tụ vào một góc để nhìn đàn lợn nối nhau đi quanh sân. Thế giới đảo điên hết rồi sao? Phút hoảng loạn ban đầu rồi cũng qua và dù có sợ bầy chó, dù bao năm đã quen không dám phàn nàn, không dám phản đối, lần này chắc chắn chúng sẽ lên tiếng phản đối. Nhưng đúng lúc đó, như có hiệu lệnh, bọn cừu đồng thanh gào lên:


"Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn! Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn! Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn!"


Chúng tụng như thế năm phút liền, không ngưng nghỉ. Khi lũ cừu im thì đàn lợn đã vào hết trong nhà rồi, có phản đối cũng chẳng ai nghe.


Benjamin cảm thấy như có con nào đang lấy mũi cọ vào vai mình. Nó quay đầu lại. Hoá ra là Bà Mập. Đôi mắt đã mờ của nó trông càng buồn hơn lúc nào hết. Nó khẽ ngoạm vào bờm của Benjamin và kéo ra phía đầu hồi của nhà kho lớn. Chúng đứng đó, yên lặng ngắm những dòng chữ màu trắng trên bức tường sơn hắc ín.


"Tôi chẳng còn trông thấy gì cả - Cuối cùng Bà Mập lên tiếng - Ngay khi còn trẻ tôi cũng có đọc được chữ nào đâu. Nhưng tôi thấy hình như bức tường trông khác lắm. Bảy Điều Răn vẫn thế chứ, anh Benjamin?"
Đây là lần đầu tiên Benjamin từ bỏ thói quen cố hữu của nó và khẽ đọc cho Bà Mập nghe. Trên bức tường chỉ còn ghi một Điều Răn duy nhất như sau:


MỌI CON VẬT SINH RA ĐỀU BÌNH ĐẲNG, NHƯNG CÓ MỘT SỐ CON BÌNH ĐẲNG HƠN NHỮNG CON KHÁC.


Sau đó thì ngay cả việc những con lợn đốc công mang theo roi ra đồng cũng không làm chúng ngạc nhiên nữa. Chúng cũng không ngạc nhiên khi thấy bọn lợn mua đài, rồi thảo luận kí hợp đồng đặt máy điện thoại cũng như đặt mua các báo như John Bull [2] , Tits-Bit 1 và Daily Mirror 2 . Chúng cũng không ngạc nhiên khi trông thấy Napoleon mồm ngậm tẩu thuốc đi dạo trong vườn, cũng như khi thấy lũ lợn lấy quần áo của ông Jones ra diện nữa. Napoleon chọn cho mình chiếc áo khoác đen, quần ống túm, ủng da; trong khi con lợn cái mà nó thích nhất được bộ lụa tơ tằm mà bà Jones thường mặc khi đi nhà thờ, vào những ngày chủ nhật.


Một tuần sau, buổi chiều, có rất nhiều xe cộ đi vào trại. Đấy là đại biểu các trang trại lân cận được mời đến thăm quan Trại Súc Vật. Quan khách rất ngạc nhiên khi được xem các cánh đồng, các công cụ sản xuất của trại, đặc biệt là cối xay gió. Lúc đó các con vật đang nhổ cỏ trên cánh đồng trồng củ cải. Chúng làm việc chăm chỉ, ít khi ngẩng đầu lên. Chúng cũng không biết trong hai loại đó, quan khách và lợn, bọn nào đáng sợ hơn.
Tối hôm đó có tiếng hát và tiếng cười rất to vẳng lại từ phía ngôi nhà chính. Lũ súc vật bỗng cảm thấy tò mò, muốn biết trong nhà đó đang nói chuyện gì vì đây là lần đầu tiên con người và con vật gặp nhau như những đối tác bình đẳng. Rồi không con nào bảo con nào, chúng cùng nằm xuống và im lặng bò đến gần toà nhà chính.


Chúng hơi lưỡng lự khi bò đến cổng, nhưng Bà Mập đã tiến lên hàng đầu. Khi đến gần toà nhà thì chúng nhón gót đứng lên, những con đủ chiều cao có thể nhìn được qua cửa sổ. Bên trong, có sáu điền chủ và sáu con lợn xuất chúng nhất đang ngồi xung quanh một cái bàn dài. Napoleon ngồi ngay đầu bàn, chỗ trang trọng nhất. Có vẻ như lũ lợn đã quen với việc ngồi ghế từ lâu. Cả bọn vừa đánh bài, nhưng lúc ấy đã ngưng, chắc là để nâng cốc chúc mừng nhau. Một chiếc bình khá to được chuyền tay nhau và tất cả các li đều được rót đầy bia. Không ai để ý đến lũ súc vật đang tò mò nhìn qua cửa sổ.


Ông Pilkington, Trại Cáo, tay cầm li bia, đứng dậy. Ông nói rằng sau đây ông sẽ đề nghị nâng li chúc mừng. Nhưng ông xin được nói vài lời trước đã.


"Thật là vô cùng phấn khởi - ông nói - đối với ông, cũng như đối với tất cả những người đang có mặt ở đây hôm nay, vì giai đoạn nghi kị và hiểu lầm đã chấm dứt". Đã có thời kì, dĩ nhiên là ông cũng như những người có mặt ở đây hôm nay không hề muốn như thế, nhưng rõ ràng là đã có những thời kì mà những người xung quanh nhìn các chủ nhân đáng kính của Trại Súc Vật với một thái độ, không thể nói là thù địch, nhưng với một sự thiếu thiện cảm. Đáng tiếc là đã xảy ra một vài va chạm, đã lưu truyền một vài quan niệm sai lầm. Có ý kiến cho rằng một trang trại của lợn và do lợn quản lí là một điều bất bình thường và không nghi ngờ gì rằng trại này sẽ tạo ra những ảnh hưởng không hay cho những trang trại xung quanh. Nhiều điền chủ, phải nói là khá nhiều, không hề điều nghiên, đã vội kết luận rằng ở đây sẽ có nhiều hành vi quá trớn và thiếu kỉ cương. Họ lo lắng về ảnh hưởng của trang trại này không chỉ đối với súc vật mà còn đối với cả những người làm thuê cho họ nữa. Nhưng tất cả những mối ngờ vực đó đã chấm dứt. Hôm nay, ông và các đồng nghiệp đã được mời thăm quan trang trại, họ đã xem xét rất kĩ, họ đã tìm thấy gì? Không chỉ công nghệ hiện đại nhất mà cả kỉ cương, trật tự của trại đều xứng đáng cho các trang trại khắp nơi học tập. Ông tin không nói sai khi bảo rằng những loài súc vật hạ đẳng ở đây làm việc nhiều hơn nhưng lại nhận được khẩu phần ít hơn so với các trại khác trong khu vực. Tóm lại, ông và các đồng nghiệp đã trông thấy ở đây nhiều điều đáng phải áp dụng ngay.
Ông nói xin chúc tình hữu nghị giữa Trại Súc Vật và các trại khác đã, đang và sẽ tồn tại mãi mãi. Quyền lợi của loài lợn và của loài người không hề và không được mâu thuẫn nhau. Cả hai đều có chung mục đích và có chung những khó khăn. Vấn đề sức lao động thì ở đâu chả giống nhau, có phải thế không? Đến đây thì rõ ràng là Pilkington định nói một câu khôi hài đã chuẩn bị sẵn từ lâu, nhưng buồn cười qua, không thể thốt thành lời. Sau một lúc cố gắng đè nén tình cảm, Pilkington nói một câu như sau:


"Nếu các bạn phải xử lí những loài vật hạ đẳng, thì chúng tôi, chúng tôi cũng phải xử lí các giai cấp hạ đẳng."


Đáp lại câu nói ý vị đó 3 là tiếng cười tưởng muốn vỡ nhà, Pilkington lại chúc mừng lũ lợn về việc ăn ít, làm nhiều và kỉ cương, nề nếp của trại.
Và bây giờ, Pilkington đề nghị mọi người cùng đứng dậy, đổ đầy bia vào li.


"Thưa các ngài!", Pilkington kết thúc bài diễn văn như vậy, "Thưa các ngài, xin các ngài cùng nâng cốc chúc Trại Súc Vật ngày càng thịnh vượng."


Tiếng vỗ tay, tiếng dậm chân ầm ầm. Napoleon khoái bài diễn văn đến nỗi đến chạm cốc với Pilkington rồi mới uống. Khi tiếng vỗ tay đã dịu xuống, thì Napoleon, lúc đó vẫn đứng, tuyên bố rằng nó cũng xin được phát biểu vài câu.


Napoleon bao giờ cũng nói ngắn và đi ngay vào thực chất vấn đề. Napoleon bảo rằng nó cũng rất mừng là đã thanh toán hết mọi hiểu lầm. Trước đây từng có những tin đồn, chắc chắn là do những thế lực thù địch tuyên truyền, rằng dường như nó và các cộng sự đang theo đuổi những ý tưởng phá hoại, nếu không nói là có tính cách mạng. Người ta vu cho chúng ý định kích động súc vật trong các trại khác đứng lên khởi nghĩa. Vu khống, bịa đặt từ đầu tới cuối! Ước muốn duy nhất của chúng, hiện nay cũng như trong quá khứ, là được sống trong hoà bình và có quan hệ làm ăn bình thường với những người láng giềng. Trại mà nó được vinh dự lãnh đạo, Napoleon nói thêm, là một loại hợp tác xã. Tất cả những thứ nằm dưới sự quản lí của nó là tài sản chung của cả loài lợn trong trại.
Napoleon nói, nó tin là mọi nghi ngờ đã được giải toả và những thay đổi gần đây càng làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau hơn nữa. Cho đến nay các con vật trong trang trại có một thói quen không hay là gọi nhau bằng "Đồng chí". Thói quen này sẽ bị bãi bỏ. Còn một thói quen nữa, không biết bắt đầu từ khi nào, ấy là việc sáng nào cũng đi thành hàng ngũ trong sân, xung quanh một cái sọ heo cắm trên cọc. Thói quen này cũng bị bãi bỏ và cái đầu heo đã được đem chôn rồi. Các vị khách chắc đã có dịp trông thấy lá cờ xanh tung bay. Nếu quả họ đã trông thấy thì chắc chắn là họ phải nhận ra rằng biểu tượng sừng và móng màu trắng cũng đã bị xóa bỏ rồi. Từ nay trở đi lá cờ sẽ chỉ có một màu xanh tinh khiết mà thôi.
Nó nói rằng nó xin phép được sửa lại chút xíu bài diễn văn vô cùng súc tích và đầy thiện ý của ngài Pilkington. Trong suốt bài diễn văn ngài Pilkington đã gọi trại này là Trại Súc Vật. Ngài Pilkington dĩ nhiên không thể biết, vì hôm nay, đây là lần đầu tiên Napoleon tuyên bố hủy bỏ tên Trại Súc Vật. Từ nay trở đi trại sẽ lấy tên là Điền Trang, cần phải gọi như thế vì từ nguyên uỷ trại này vốn vẫn mang tên như thế.


"Thưa các ngài!", Napoleon kết luận, "Tôi đề nghị các ngài nâng cốc chúc mừng, nhưng với một chút xíu sửa đổi. Xin các ngài rót đầy cốc đi đã. Xin các ngài nâng cốc chúc Điền Trang ngày càng thịnh vượng!"


Tiếng vỗ tay vang lên, mọi người cạn cốc. Nhưng những con vật đang đứng bên ngoài thì thấy như đang xảy ra một chuyện kì lạ. Tại sao mặt những con heo lại thành như thế kia nhỉ? Đôi mắt đục mờ của Bà Mập hết nhìn con này lại nhìn sang con khác. Con thì cằm có đến năm ngấn, con lại có bốn, con thì có ba. Tại sao mọi thứ lại trở nên mờ ảo và thay đổi nhanh thế nhỉ? Tiếng vỗ tay chấm dứt, bàn tiệc quay lại với ván bài bỏ dở, những con đứng xem bên ngoài lục tục bò trở ra.


Nhưng chúng vừa bò cách khoảng hai mươi mét thì tất cả cùng dừng lại. Có tiếng hò hét ầm ĩ vọng ra từ toà nhà. Chúng lập tức quay lại và tiếp tục nhìn qua cửa sổ. Cuộc tranh cãi đang hồi quyết liệt. Có tiếng hét, tiếng đập bàn, tiếng tranh luận và những ánh mắt nghi kị. Nguyên nhân cuộc tranh cãi có lẽ là do Napoleon và Pilkington đưa ra con đầm pích cùng một lúc.


Mười hai cái miệng tức giận cùng lên tiếng, có trời mới phân biệt được ai với ai. Bọn súc vật không còn để ý đến mặt mấy con lợn bên trong nữa. Chúng nhìn lợn rồi lại nhìn người, nhìn người rồi lại nhìn lợn, một lúc sau thì chúng chịu, không thể phân biệt được đâu là người, đâu là lợn nữa.


Tháng 11 năm 1943 - tháng 2 năm 1944.
--------------------------------
1 Tạp chí ra hàng tháng, thường đăng các bài báo, truyện ngắn, tranh có tính cách giải trí. Xuất bản từ năm 1895.
2 Tờ báo ra hàng ngày, dành cho độc giả bình dân, ngả về Đảng Lao động, thường đăng nhiều bài giật gân, quảng cáo do tập đòan Mirror Group Newspaper phát hành. In 3 triệu bản mỗi kì. Xuất bản từ năm 1903.


 


Hết
3 Nguyên văn: bon mot (tiếng Pháp).


 

Thứ Tư, 4 tháng 10, 2006

Trại súc vật - George Orwell - Chương 9

Cái móng bị thương của Chiến Sĩ chữa mãi vẫn không khỏi. Trong khi đó lũ súc vật tiến hành khôi phục cối xay gió ngay sau lễ mừng chiến thắng. Chiến Sĩ không nghỉ ngày nào, nó rất tự hào là đã không để cho những con khác thấy nó đang bị đau. Chỉ đến tối nó mới bảo với Bà Mập là bị vết thương hành hạ. Bà Mập phải nhai lá cây và đắp vào vết thương cho Chiến Sĩ. Nó cùng với Benjamin thuyết phục Chiến Sĩ hãy tự bảo trọng.


"Phổi loài ngựa không được khoẻ đâu", Nó nói.


Nhưng Chiến Sĩ không nghe. Nó bảo chỉ có một ước nguyện duy nhất là được trông thấy cối xay gió hoàn thành trước khi nghỉ hưu mà thôi.


Ngay từ khi mới thiết lập luật lệ của Trại Súc Vật, đã có qui định tuổi nghỉ hưu của ngựa và lợn là mười hai, của bò là mười bốn, của chó là chín, của cừu là bảy, còn của gà là năm. Chúng cũng đã thống nhất là sẽ không để cho những con về hưu phải thiếu thốn bất cứ thứ gì. Thực ra thì cho đến nay cũng chưa có con nào nghỉ hưu cả, nhưng thời gian gần đây vấn đề này rất hay được đem ra bàn thảo. Bây giờ, khi miếng đất cạnh khu vườn được đem đi trồng lúa mạch rồi thì lại có tin là một góc bãi cỏ dài sẽ được rào riêng ra cho những con già cả. Cũng có tin nói rằng ngựa hưu sẽ được lĩnh hai cân ngũ cốc mỗi ngày, đấy là mùa hè, còn mùa đông thì được bảy cân cỏ khô, ngày lễ thì còn được phát thêm một củ cà rốt hay một quả táo nữa. Sang năm Chiến Sĩ sẽ tròn mười hai tuổi.


Hiện nay đời sống của chúng phải nói là khá chật vật. Mùa đông năm nay lạnh không khác gì năm trước mà thực phẩm thì khan hiếm hơn. Khẩu phần, trừ của chó và lợn, đều bị cắt bớt. Tuyệt đối bình quân, Chỉ Điểm giải thích, là trái với nguyên tắc của Súc Sinh Kinh. Nó dễ dàng chứng minh cho những con khác thấy rằng thực ra là chúng có đủ lương thực, khan hiếm thực phẩm chỉ là giả tạo. Dĩ nhiên là lúc này cần phải có một sự điều chỉnh nhất định (Chỉ Điểm nói là "điều chỉnh" chứ không phải "cắt bớt") nhưng nếu so với thời còn lão Jones thì sự cải thiện là rõ ràng. Bằng một giọng đọc nhanh và the thé chói tai, nó đưa ra những con số rất cụ thể, chứng minh rằng chúng thu được nhiều yến mạch, nhiều cỏ khô, nhiều củ cải hơn thời còn lão Jones, công việc lại nhẹ nhàng hơn, nước uống có chất lượng cao hơn, chúng sống lâu hơn, tỉ lệ trẻ sơ sinh sống sót cao hơn, chúng có nhiều rơm làm nệm hơn, ít chấy rận hơn. Mọi con đều tin như thế. Thực ra mà nói thì chúng cũng đã quên gần hết những chuyện thời ông Jones rồi. Chúng chỉ biết rằng cuộc sống hiện nay rất khó khăn, vất vả, chúng thường bị đói, bị rét và hễ mở mắt ra là chúng phải làm. Trước đây chắc là còn khó khăn nữa. Chúng vui lòng tin như thế. Ngoài ra, quan trọng hơn nữa là trước đây chúng là nô lệ, bây giờ chúng được tự do, Chỉ Điểm luôn nhấn mạnh như vậy.


Nhân khẩu ngày một tăng. Mùa thu vừa rồi có bốn chị lợn nằm ổ cùng một lúc, chúng sinh được những ba mươi mốt con cả thảy. Tất cả đều là lợn khoang, cả trại chỉ có một mình Napoleon là lợn giống nên có thể đoán ngay được chúng là con ai. Toàn trại được thông báo rằng hiện đang tiến hành mua gạch và gỗ, khi nào mua được thì sẽ xây lớp học. Còn hiện thời thì lũ lợn con sẽ được giao cho Napoleon dạy dỗ trong khu nhà bếp. Lũ lợn con được đưa ra vườn chơi nhưng bị cấm tiếp xúc với bọn thú con khác loài. Một điều luật mới cũng được đưa ra trong khoảng thời gian này, ấy là khi gặp nhau thì tất cả phải đứng sang bên, nhường đường cho lợn đi trước, đồng thời, giống lợn, không phân biệt chức vụ được đeo băng xanh ở đuôi vào các ngày chủ nhật.


Năm nay là một năm khá thành công, nhưng tiền thì vẫn thiếu. Còn phải mua gạch, vôi và cát để xây trường học; lại còn phải tiết kiệm để mua máy móc cho cối xay gió nữa. Rồi phải mua dầu thắp, nến và đường cho riêng Napoleon (nó cấm các (những) con lợn khác ăn đường vì sợ chúng sẽ bị tăng trọng) và bao nhiêu thứ khác như dụng cụ, đinh, dây thừng, than, dây thép, tấm lợp và bánh bích qui cho chó nữa. Phải bán một phần cỏ khô và khoai tây, hợp đồng bán trứng gà đã tăng lên đến sáu trăm quả mỗi tuần thành thử số gà gần như không tăng, nếu không nói là giảm vì số trứng chúng để lại ấp quá ít. Tháng mười hai đã giảm khẩu phần một lần, tháng hai lại bị giảm một lần nữa và để tiết kiệm, từ nay ban đêm không được thắp đèn trong các chuồng nữa. Nhưng lũ lợn có vẻ như vẫn sống khoẻ, chí ít con nào cũng lên cân. Một lần, vào buổi chiều tháng hai, trong khu sân trại bỗng có một mùi thơm nồng, lũ súc vật chưa từng ngửi thấy mùi này bao giờ. Hoá ra mùi ấy xuất phát từ cái nhà nằm ở sau bếp, thời còn lão Jones vẫn dùng để nấu bia, nhưng lâu nay bỏ không. Có con nào đó nói rằng đấy là mùi lúa mạch nấu. Lũ súc vật hít hà mãi cái mùi thơm nồng, cay cay đó và cố đoán xem tối nay chúng có được ăn "hèm" không. Nhưng tối hôm đó không có "hèm", đến chủ nhật chúng lại được thông báo rằng từ nay lúa mạch sẽ để dành riêng cho lũ lợn. Miếng đất cạnh khu vườn đã được gieo lúa mạch rồi. Sau đó lại có tin nói rằng từ nay mỗi con lợn sẽ được nửa lít bia một ngày, riêng Napoleon thì được uống hai lít, mà phải uống bằng cốc pha lê.


Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng cuộc đời vẫn đáng sống hơn xưa rất nhiều. Chưa bao giờ chúng được hát, được nghe nói chuyện, được đi mít tinh, biểu tình nhiều như bây giờ. Napoleon ra lệnh mỗi tuần phải có một cuộc Diễu Hành mà nó gọi là Tự Phát, mục đích là để ngợi ca cuộc đấu tranh và những thành quả của Trại Súc Vật. Đúng giờ qui định tất cả sẽ rời bỏ ngay công việc, xếp thành đội ngũ, lần lượt là lũ lợn rồi đến ngựa, bò, cừu và cuối cùng là gà, vịt và đi đều bước xung quanh trang trại. Con gà trống màu đen của Napoleon luôn luôn đi đầu, còn hai bên đoàn diễu hành là lũ chó. Chiến Sĩ và Bà Mập mang lá cờ màu xanh giữa có hình sừng và móng và khẩu hiệu "Đồng chí Napoleon muôn năm". Các buổi mít tinh bao giờ cũng kết thúc với màn trình bày bài thơ ngợi ca Napoleon và báo cáo của Chỉ Điểm về những thành tích trong việc tăng gia sản xuất thời gian vừa qua; những dịp lễ lạt thường có bắn các loạt súng chào mừng nữa. Lũ cừu đặc biệt khoái đi diễu hành, nếu có con nào phàn nàn (nhất là khi vắng bọn chó và lợn) là diễu hành chỉ tổ rét và mất thời gian thì chúng lập tức tụng bài cầu nguyện muôn thuở: "Bốn chân tốt, hai chân xấu", mà chúng tụng to đến nỗi át được mọi (cả những) lời phàn nàn, hậm hực. Nhưng nói chung là đa số thích những buổi lễ lạt kiểu ấy. Chúng thấy được an ủi phần nào vì các buổi tụ tập như vậy nhắc nhở chúng rằng chúng thực sự là chủ nhân của trang trại và mọi việc chúng làm đều là vì chúng mà thôi. Những bài hát, những cuộc diễu hành, số liệu của Chỉ Điểm, tiếng súng chào mừng, tiếng gáy của con gà trống và ngọn cờ tung bay trước gió đã giúp quên đi, dù chỉ trong phút chốc cái đói cồn cào đang hành hạ chúng.


Tháng tư, Trại Súc Vật tự tuyên bố là Nước Cộng Hòa, cần phải bầu Tổng Thống. Chỉ có một ứng cử viên duy nhất. Napoleon trúng cử một trăm phần trăm. Ngay hôm đó lại có tin đã tìm thấy những tài liệu mới chứng tỏ Tuyết Tròn đã cộng tác với lão Jones ngay từ đầu. Hoá ra là Tuyết Tròn không chỉ sử dụng chiến thuật khôn khéo nhằm làm thất bại Chiến Dịch Chuồng Bò, như chúng đã thấy trước đây, mà còn đứng hẳn về phía lão Jones nữa. Chính Tuyết Tròn đã dẫn đầu đoàn người xâm nhập, miệng hô lớn: "Loài người muôn năm!". Còn những vết thương trên lưng nó, vẫn có mấy con còn sống trông thấy những vết thương ấy và nhớ rõ rằng đấy chính là vết răng của Napoleon.


Sau nhiều năm vắng bóng, giữa mùa hè vừa rồi con Moses bỗng lại xuất hiện. Nó hầu như không thay đổi, vẫn chẳng chịu làm gì và suốt ngày kể chuyện hão huyền về Núi Xôi. Nó thường đậu trên cành cây, vẫy vẫy đôi cánh đen và nói hàng giờ liền, miễn là có con nào đó chịu nghe.


"Ở trên kia, thưa các đồng chí", Nó vừa nói vừa lấy mỏ chỉ lên trời, "phía trên những đám mây màu đen kia là Núi Xôi, là nơi các loài vật khốn khổ chúng ta sẽ được yên nghỉ đời đời."


Nó còn nói rằng nó đã từng bay tới đó một lần rồi, đã từng trông thấy những cánh đồng cỏ ba lá xanh tốt quanh năm, trông thấy những khu vườn mọc đầy bánh nhân hạt lanh cũng như đường cục. Thế mà có nhiều con tin. Chúng nghĩ rằng chúng đang bị đói, khổ, vất vả; thế thì việc có một thế giới an lành hơn ở đâu đó cũng là lẽ công bằng mà thôi. Nhưng điều chúng không thể hiểu được chính là thái độ của bọn lợn đối với Moses. Lũ lợn miệt thị rằng Núi Xôi chỉ là chuyện bịa, nhưng Moses không những không bị đuổi đi mà còn được cấp một vại bia mỗi ngày.
Cuối cùng thì móng của Chiến Sĩ cũng khỏi, nó lao vào công việc hăng hơn lúc nào hết. Những con khác cũng phải làm không khác gì tù khổ sai. Ngoài công việc thường kì của trại và khôi phục cối xay gió thì còn việc xây trường cho lũ lợn con nữa. Trường học được khởi công vào tháng ba. Đôi khi tưởng chừng như không thể nào chịu nổi thời gian và cường độ lao động ấy với một cái dạ dày lép kẹp, nhưng Chiến Sĩ không hề ngã lòng. Không có một dấu hiệu gì, kể cả trong lời nói cũng như việc làm chứng tỏ sức lực của nó không còn được như xưa nữa. Tuy thế, tướng mạo của nó có thay đổi chút ít, da nó không còn được nhuận như trước, hông nó trông cũng nhỏ đi. Mọi con đều nói: "Có cỏ non là Chiến Sĩ sẽ bình phục ngay ấy mà", nhưng mùa xuân đã về, cỏ non đã lên xanh mà Chiến Sĩ chẳng hề mập thêm chút nào. Những khi trông nó gồng mình kéo đá lên khỏi bờ dốc, có cảm tưởng như sức nó đã kiệt, phải là một ý chí sắt đá lắm mới đứng vững được như thế. Nhìn vào đôi môi, người tinh có thể thấy rằng nó đang định nói: "Tôi sẽ cố gắng hơn nữa", nhưng không thể thốt lên lời. Bà Mập và Benjamin lại nhắc nó giữ gìn sức khoẻ, nhưng nó vẫn bỏ ngoài tai. Ngày sinh nhật lần thứ mười hai đang đến gần. Nó chỉ quan tâm đến một việc duy nhất sau đây: làm sao gom được thật nhiều đá trước khi nghỉ hưu, còn sau đó muốn ra sao thì ra.


Một hôm, lúc ấy đã khá khuya, bỗng có tin Chiến Sĩ gặp nạn. Hoá ra là nó đi kéo xe đá một mình. Không phải là tin đồn nữa, sự thật là thế, mấy phút sau có hai con bồ câu bay về.
"Chiến Sĩ bị ngã! Nó ngã nằm nghiêng, không dậy được nữa rồi!", hai con bồ câu thông báo.
Gần một nửa số súc vật trong trang trại lao về phía gò đất. Chiến Sỹ nằm đó, giữa hai càng xe, cổ vươn ra, nhưng yếu quá, không thể nhấc đầu lên được. Lưng nó đẫm mồ hôi, hai mắt trông dại hẳn đi. Một dòng máu nhỏ đang rỉ ra khỏi miệng. Bà Mập quì xuống bên cạnh.


"Chiến Sĩ!", nó hỏi, "Anh sao vậy?"


"Không thở được nữa rồi", Chiến Sỹ thều thào nói, "Nhưng không sao. Tôi nghĩ các bạn sẽ dựng lại được cối xay gió. Có nhiều đá lắm rồi. Dù sao cũng chỉ một tháng nữa là tôi sẽ nghỉ hưu thôi. Nói thật, tôi mong được nghỉ hưu lắm. Benjamin cũng già rồi, nếu nó cũng được nghỉ hưu cùng lúc với tôi để cho có bạn thì tốt biết bao."


"Đi báo cho Chỉ Điểm ngay", Bà Mập nói.


Tất cả lập tức chạy về khu nhà chính để tìm Chỉ Điểm. Chỉ có Bà Mập và Benjamin ở lại. Benjamin yên lặng nằm xuống bên cạnh Chiến Sĩ và dùng đuôi đuổi ruồi cho nó. Khoảng mười lăm phút sau thì Chỉ Điểm tới, mặt lộ đầy vẻ thương cảm và sốt sắng. Nó nói rằng đồng chí Napoleon rất buồn khi biết tin tai nạn đã xảy ra với một trong những người lao động trung thành nhất của trang trại và đang sắp xếp để đưa Chiến Sĩ đến chữa tại bệnh viện ở Willingdon. Nhưng lũ súc vật lại cảm thấy có cái gì đó không yên tâm vì từ trước tới nay ngoài Mollie và Tuyết Tròn ra thì chưa có con nào đi khỏi trang trại, vả lại chúng cũng không thích giao một đồng chí bệnh hoạn vào tay con người. Nhưng Chỉ Điểm dễ dàng thuyết phục được chúng rằng các bác sĩ thú y ở Willingdon sẽ chữa cho Chiến Sĩ tốt hơn là cứ để nó nằm ở trại. Khoảng nửa tiếng sau thì Chiến Sĩ đứng dậy được, nó lết dần về chuồng. Bà Mập và Benjamin lấy rơm trải cho nó một cái ổ khá dày.


Chiến Sĩ nằm trong chuồng hai ngày liền. Lũ lợn tìm được một chai thuốc màu hồng khá to ở trong tủ thuốc đặt tại phòng tắm và đem ra cho nó. Bà Mập bắt nó uống hai lần một ngày, ngay sau bữa ăn. Buổi tối Bà Mập vào chuồng của Chiến Sĩ để tâm sự, trong khi Benjamin thì đuổi ruồi cho nó. Chiến Sĩ nói rằng nó chẳng có gì phải phàn nàn. Nếu lần này hồi phục được thì nó có thể sống thêm khoảng ba năm nữa, nó mong được sống những ngày thanh thản còn lại trong góc cái bãi cỏ rộng dành cho những con về hưu. Nó sẽ dành trọn thời gian rảnh rỗi để học tập, nâng cao trình độ. Nó bảo nó sẽ dành toàn bộ quãng đời còn lại để học cho thuộc hai mươi hai chữ cái.


Benjamin và Bà Mập chỉ có thể chăm sóc Chiến Sĩ sau giờ tan tầm, thế mà cái xe đến bắt nó lại xuất hiện vào lúc gần trưa. Mấy con lợn đang chỉ huy cả bọn gieo hạt cải ở ngoài đồng thì bỗng thấy Benjamin phi nước đại từ trang trại tới, miệng gào đến lạc cả giọng. Đây là lần đầu tiên chúng thấy Benjamin xúc động như vậy, cũng là lần đầu tiên chúng thấy nó phi nước đại.


"Mau lên! Mau lên!", Nó gào lên, "Lại đây mau lên! Họ mang Chiến Sỹ đi rồi!"
Cả bọn lập tức bỏ việc và cùng chạy về phía khu nhà chính, không đợi lũ lợn có cho phép hay không. Quả nhiên, trong sân có một cái xe song mã đóng kín cửa, bên sườn xe có ghi hàng chữ khá to, anh chàng đánh xe đội một cái mũ phớt trông rất láu cá. Chiến Sĩ không còn trong chuồng nữa.


Lũ súc vật tập trung quanh chiếc xe.


"Đi khoẻ nhá, Chiến Sĩ!", Chúng đồng thanh hô, "Tạm biệt!"


"Ngu, ngu thế", Benjamin vừa gào thét, vừa chạy xung quanh, chân nện xuống đất ầm ầm, "Ngu, không nhìn thấy chữ gì à?"


Cả bọn như tỉnh ngộ, yên lặng nhìn nhau. Con lừa Muriel bắt đầu đánh vần, nhưng Benjamin đã đẩy nó ra và đọc:


"Lò mổ Alfred Simmond, Willingdon. Mua bán thịt, xương, da ngựa. Cung cấp cũi chó. Đã hiểu chưa? Chúng mang Chiến Sỹ đi làm thịt đấy!"


Một tiếng thét kinh hoàng cùng phát ra từ mọi lồng ngực. Đúng lúc đó, anh chàng đánh xe ra roi và hai con ngựa kéo bắt đầu chạy nước kiệu. Cái xe từ từ đi ra khỏi sân. Cả lũ cùng chạy theo sau, vừa chạy vừa khóc như mưa như gió. Bà Mập lao lên. Cái xe cũng tăng tốc. Bà Mập cố phóng lên, nhưng sức nó không còn, làm sao theo nổi hai con kia.


"Chiến Sĩ!", Nó gào lên, "Chiến Sĩ! Chiến Sĩ! Chiến Sĩ!"


Không biết Chiến Sĩ có nghe thấy tiếng gọi từ bên ngoài hay không, nhưng cái mõm với một vệt màu trắng chạy dọc sống mũi của nó có lấp ló phía trong cái cửa sổ nhỏ ở đằng sau xe.


"Chiến Sĩ!", Bà Mập gào đến lạc giọng, "Chạy đi! Chạy đi! Chạy mau lên! Chúng giết mày đấy!"


Tất cả đồng thanh thét lên:


"Chạy đi, Chiến Sĩ , Chạy đi!"


Nhưng hai con ngựa đã tăng tốc, cái xe ngày một đi xa hơn. Không biết là Chiến Sĩ có nghe rõ Bà Mập nói gì hay không, nhưng không còn trông thấy mõm nó bên trong cửa sổ nữa, đồng thời người ta nghe thấy tiếng chân nó nện vào thành xe đều và vang không khác gì tiếng trống ngũ liên. Đấy là Chiến Sĩ đạp vào thành xe để tìm lối thoát. Trước đây thì chỉ vài cái đạp như thế cũng đủ làm cho chiếc xe này biến thành củi rồi. Nhưng lạy chúa tôi! Sức nó nay còn đâu và tiếng đạp cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi im hẳn. Không biết làm thế nào, lũ súc vật đành quay ra cầu cứu hai con ngựa kéo, xin chúng đừng chạy nữa.


"Các đồng chí! Các đồng chí!", Chúng lại đồng thanh gào lên, "Các đồng chí có biết đang mang người anh em của mình đi đâu không?"


Nhưng hai con vật ngu lâu, đầu óc tăm tối đó không hiểu, chúng chỉ khẽ vểnh tai lên và càng chạy nhanh thêm. Không còn thấy Chiến Sĩ thấp thoáng bên trong cái cửa sổ nhỏ nữa. Có con nghĩ đến việc chạy ra để đóng cánh cổng lớn lại, nhưng quá trễ mất rồi, chiếc xe đã ra đến đường lớn và đi xa dần. Từ đấy không ai còn trông thấy Chiến Sĩ nữa.


Ba ngày sau có thông báo rằng Chiến Sĩ đã mất tại bệnh viện ở Willingdon, mặc dù đã được chăm sóc rất tận tình. Chính Chỉ Điểm thông báo như thế. Nó còn nói rằng nó đã ở cạnh Chiến Sĩ trong giờ phút lâm chung.


"Thật vô cùng cảm động", Chỉ Điểm vừa nói vừa lau nước mắt, "Tôi ngồi bên Chiến Sĩ khi đồng chí ấy trút hơi thở cuối cùng. Trước khi chết đồng chí ấy đã yếu lắm, không nói được nữa, nhưng đồng chí ấy vẫn cố thì thầm nói rằng đồng chí ấy chỉ tiếc không được tham dự lễ khánh thành cối xay gió. "Tiến lên, các đồng chí - đồng chí ấy nói - Vì sự nghiệp của cuộc Khởi Nghĩa hãy tiến lên! Trại Súc Vật muôn năm! Đồng chí Napoleon muôn năm! Đồng chí Napoleon bao giờ cũng đúng!" - Đấy chính là những lời nói cuối cùng của đồng chí ấy."


Lúc đó thái độ của Chỉ Điểm đột nhiên thay đổi. Nó ngồi im một lúc, sau đó nhìn quanh khắp lượt rồi mới tiếp tục câu chuyện.


Nó bảo rằng từ khi đưa Chiến Sỹ đi thì ở trại đã lan truyền những tin đồn thất thiệt. Một số con nhìn thấy chữ "Lò mổ" trên thành xe đã vội kết luận rằng Chiến Sĩ bị đưa đi làm thịt. Chỉ Điểm nói rằng nó không thể tin là các con vật trong trại lại ngu ngốc đến thế. Không thể tin, Chỉ Điểm vừa nói vừa vẫy đuôi và nhảy loạn xạ lên, là các con vật trong trại lại có thể nghĩ về lãnh tụ kính yêu, nghĩ về đồng chí Napoleon theo chiều hướng đó! Mọi việc đơn giản hơn rất nhiều. Số là ông bác sĩ thú y đã mua lại cái xe của lò mổ, nhưng ông ta chưa kịp xoá tên chủ cũ đi. Lí do chỉ có vậy thôi.


Nghe nói thế, cả bọn đều cảm thấy yên lòng. Còn khi Chỉ Điểm tả rõ cảnh chăm sóc, cũng như những thuốc men đắt tiền mà Napoleon hạ lệnh mua để chạy chữa cho Chiến Sĩ trong những ngày cuối cùng vừa qua thì những nghi ngờ lâu nay được giải toả hẳn và nỗi buồn mất bạn vơi đi bội phần: dù sao thì Chiến Sĩ cũng được mồ yên mả đẹp rồi.


Chính Napoleon tham dự cuộc họp vào sáng chủ nhật và đọc một bài diễn văn tưởng niệm Chiến Sĩ. Chúng ta không có điều kiện, nó nói, đưa thi hài của người đồng chí quá cố về trang trại, nhưng nó đã ra lệnh làm một vòng hoa thật lớn, hoa lấy ngay trong vườn trại và đưa đến Willingdon để đặt lên mộ Chiến Sĩ. Lũ lợn sẽ tổ chức bốn chín ngày [1] thật to cho Chiến Sĩ, nó hứa như vậy. Napoleon kết thúc bài diễn văn bằng cách nhắc lại hai khẩu hiệu của Chiến Sĩ: "Tôi sẽ cố gắng hơn nữa" và "Đồng chí Napoleon lúc nào cũng đúng". Napoleon còn bảo rằng tất cả các con vật trong trang trại nên học tập Chiến Sĩ, lấy khẩu hiệu của Chiến Sĩ làm khẩu hiệu hành động của chính mình.


Đúng hôm tổ chức bốn chín ngày cho Chiến Sỹ thì có một cái xe chở một thùng gỗ lớn đến toà nhà chính. Tối hôm đó từ trong toà nhà vọng ra tiếng hát, tiếng tranh luận ồn ào và vào lúc mười một giờ thì người ta nghe thấy tiếng cốc thủy tinh vỡ loảng xoảng, rồi tất cả chìm vào màn đêm yên lặng. Toà nhà chính đóng cửa kín mít cho đến tận trưa hôm sau, trong khi đó lại có tin đồn rằng lũ lợn đã kiếm được tiền và mua hẳn một thùng whisky.


 

Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ