Thứ Hai, 20 tháng 11, 2006

Thám tử lừng danh Conan


Câu hỏi với tất cả những ai quan tâm tới bộ truyện này là: bao giờ nó chấm dứt.


 


Có hay không? Ai có thể khẳng định rằng nó hoàn toàn không hay?


 


Rằng vì đã từng xem pháo hoa 1,2 lần rồi, vì nó rực rỡ quá, lạ lẫm quá, lung linh quá, nên cho dù xem bao nhiêu lần vẫn thấy hay.


 


Cái gì nhiều thì nhàm. Pháo hoa năm nào cũng đốt và có đi xem cũng chỉ vì nó là pháo hoa, không phải lúc nào muốn được xem cũng có.


 


Giờ Conan giống như một thói quen, có thì xem vì chẳng mấy khi nó có, nhưng những háo hức, say mê ban đầu hoàn toàn không còn nữa.


 


Đã từng một thời Conan là hay nhất, nhưng sau đó có Kindaichi, Eiji, Thám tử Q, đều là những bộ truyện đã kết thúc trong hợp lý, cùng thể loại và đánh giá trung thực là hay hơn.


 


Không phải vì chờ mãi mà chẳng thấy Shin lớn lên, cứ mãi là thằng nhóc 6 tuổi.


Không phải vì những tình tiết lặp đi lặp lại, những vụ án càng lúc càng mang tính mua vui trong khi vấn đề chính chừng như không thể tiếp diễn.


 


Chỉ vì KĐ dùng nó để câu tiền độc giả quá nhiều nên ngán.


 


Đọc Conan giờ có cảm giác bố già Gosho đang bí, chừng như kết cục thì đã có nhưng bố không biết làm thế nào để bắc cầu cho ra cái kết đó một cách hợp lý. Khó, biết là khó. Glass mark cũng trong tình trạng tương tự với tuổi đời 30.


 


Chỉ mong một điều hết sức nhỏ nhoi: cho đến trước khi kết thúc, xin KĐ đừng có tái Conan lại lần nữa, thịt bò tái nhiều sẽ thành chín, nhưng chín chưa dừ thì ăn dai nhách.


 

Thứ Ba, 14 tháng 11, 2006

"Em yêu Raito"


“I don’t care how the world it is. Honey, what do u want?”

Yêu đến mù quáng.

Thứ con gái khiến ngọn cờ bình đẳng nam nữ nằm héo hon trước gió lớn thời cuộc.

Gió nói: phụ nữ thời nay là một cá thể độc lập với đàn ông.

Cười.

Nên hễ mù quáng khi yêu thì bị gọi là ngốc, bị người ta ghét.

Nhưng lại cười, chỉ có Hachi và Misa là hai cô gái có thể tin mình có thể gặp ngoài đời.

Misa bao nhiêu tuổi mà lúc nào cũng tươi cười, nhí nhảnh như một đứa trẻ con?

Đôi khi phát bực vì lời cửa miệng của cô ấy.

“Em yêu Raito”

Nhưng cơn bực chẳng kéo dài được lâu trước ánh mắt chân thành, tin cậy.

Trước sức mạnh tuyệt đối của niềm tin.

Yêu mù quáng.

Tin mù quáng.

Đôi lúc phải choáng váng, vì cô ấy vẫn nghe lời Raito, cho dù biết đó là sai.

Như thể cô ấy đang sống ký sinh.

Làm sao ngăn được Misa, cô gái nhỏ bé, trong một thế giới nhỏ bé chỉ có Raito?

Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên, khó hiểu quá chăng?

Một anh chàng điển trai, một ân nhân, một người hùng, một cuốn Death Note trong tay, quan trọng nhất, một trí tuệ siêu việt - trong cái thế giới vốn “rỗng tuếch” và giản đơn của Misa từ nay được lấp đầy, trong trái tim trẻ thơ cô đơn của Misa từ nay đã có Raito. Ngưỡng mộ, hàm ơn, tò mò, thích thú – là thứ hỗn hợp tạo ra “tình yêu của Misa”.

Raito là thứ hào quang lấp lánh và là thứ ánh sáng duy nhất của Misa.

Với, với tay lên, mong nắm được một cái gì đó.

Ánh sáng không có hình hài, Misa chỉ với vào khoảng không.

Vậy hài lòng tắm trong ánh sáng lạnh lùng đó, có lẽ cũng đủ.

“Em yêu Raito”

Nhưng Raito chỉ là một khối tim băng lạnh, không bao giờ, không bao giờ Raito là của Misa.

Vậy nên “tình yêu của Misa” là mù quáng.

Cô gái đáng thương.

Thiên sứ với đôi cánh bị nhuộm đen vì tình yêu với ác quỷ.

Hay Pandora vì tò mò mở chiếc hộp chứa tất cả những điều xấu xa của nhân loại.

Dưới đáy hộp là hy vọng.

Trái tim mê muội vì yêu vẫn không hề bị vẩn đục.

Đó là hạnh phúc của Misa.

Cùng là chủ nhân Death Note.

Đều là những kẻ bất hạnh khi “bị chọn”.

Nhưng Misa vẫn hạnh phúc hơn Raito.

Cho dù trong mắt người khác, cô ấy đáng thương.

Nhưng bản thân Misa thấy hạnh phúc.

Cô ấy đốt cháy sinh mạng của mình vì kẻ khác, nhưng vẫn mỉm cười.

Đó cũng là hạnh phúc.

Thứ hạnh phúc mà Raito không muốn tạo ra vì biết nó không dành cho anh.

Thứ hạnh phúc mà Kira coi thường và không bao giờ hiểu nổi.

Ngu ngốc, đáng thương, có gì không được?

“Em yêu Raito”

Một tiếng thở dài.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2006

Nụ cười


Nụ cười! Con người sống trên đời đa số cười nhiều hơn khóc, nhưng để nghĩ đến một ai đó chỉ thấy nụ cười thật ít.

Lúc nào cũng vậy, chỉ có em luôn cười trong trái tim tôi.

Cho dù đó là em trên đồi Poni đầy kỉ niệm cùng chàng hoàng tử trong mơ.

Hay là em trong cơn mưa tuyết lạnh buốt trở về Chicago.

Cho dù lúc đó em hạnh phúc

Hay đau khổ.

Cái đọng lại trong tôi vẫn là nụ cười của em.

Em đã khóc nhiều lần.

Khi mất Antony.

Khi mất Tery.

Khi mất Stea.

Hạnh phúc với em chẳng có gì trọn vẹn.

Nhưng trong mắt tôi em luôn mỉm cười.

Vì nụ cười của em thật đẹp, thật trong sáng.

Trong đôi mắt em khi đang cười không có chút vẩn đục của cuộc đời, không buồn bã, không cam chịu.

Em chấp nhận số phận và mỉm cười với nó.

Giống như mùa hè có nắng và mưa.

Mưa rửa sạch và nắng hong khô nỗi buồn thành những niềm hy vọng.

Hạnh phúc cũng mỉm cười.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2006

Trại súc vật - George Orwell - Lời tựa

Trại Súc Vật được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì được in ở Mĩ. Trước đó George Orwell đã cho xuất bản 9 đầu sách với tổng số bản in cả ở Anh và Mĩ là 195 500 cuốn. Sau chiến tranh thế giới thứ II do thiếu giấy nên số lượng bản in hạn chế, tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng giêng năm 1950 đã có tất cả 25 500 cuốn Trại Súc Vật được in ở Anh và 590 000 cuốn được in ở Mĩ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm. Sinh thời Orwell tác phẩm này đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chính của châu Âu cũng như các thứ tiếng như Telugu (một dân tộc thuộc bắc Ấn Độ), Ba Tư, Aixlen và Ukraine. Sau hơn 50 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới và thuờng xuyên được tái bản. Trong lần bình chọn 100 tác phẩm hay nhất trong thế kỉ XX do nhà sách Random House tiến hành, Trại Súc Vật được xếp thứ 31.


Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của George Orwell chúng tôi xin giới thiệu Trại Súc Vật, một trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông với lời tựa cho lần xuất bản bằng tiếng Ukraine do chính Orwell viết. Lời tựa này được Orwell viết bằng tiếng Anh (bản gốc đã bị thất lạc), theo đề nghị của người tổ chức dịch thuật và phân phối tác phẩm này cho những người Ukraine chạy trốn chế độ Xô viết và sống trong các trại tạm cư do quân đội Anh và Mĩ thiết lập trên đất Đức. Lời tựa được dịch sang tiếng Ukraine dành cho lần xuất bản đầu tiên vào năm 1947, nhà sách Penguin Classic trong lần xuất bản năm 2000 đã cho dịch lại và in kèm với lời giới thiệu của Malcolm Bradbury.


Sau tác phẩm Trại Súc Vật, George Orwell còn viết một tác phẩm nổi tiếng 1984. Tác phẩm này nằm ở vị trí 13 trong bảng tổng sắp của nhà sách Randomhouse đã nói ở trên. Tin rằng một ngày gần đây tác phẩm bất hủ này cũng sẽ ra mắt độc giả tiếng Việt.


Phạm Minh Ngọc


 


Tôi được yêu cầu viết lời giới thiệu cho bản dịch tác phẩm Trại Súc Vật sang tiếng Ukraine. Tôi nhận thức rõ rằng tôi đang viết cho những độc giả mà tôi không có một chút hiểu biết nào và họ cũng chưa từng có cơ hội tìm hiểu tôi.


Trong lời giới thiệu chắc chắn các độc giả muốn tôi kể về quá trình sáng tác tác phẩm Trại Súc Vật, nhưng trước tiên tôi muốn tự kể về mình và những trải nghiệm đã dẫn tôi đến quan điểm chính trị hiện nay.


Tôi sinh năm 1903 tại Ấn Độ. Lúc đó cha tôi là một viên chức trong bộ máy hành chính Anh quốc ở đấy, gia đình tôi thuộc tầng lớp trung lưu gồm các quân nhân, tu sĩ, viên chức chính phủ, giáo sư, luật sư, bác sĩ v.v... Tôi tốt nghiệp trung học tại Eton, một trường công lập thuộc loại đắt nhất nước Anh thời đó. Nhưng tôi được vào học ở đây là do được nhận học bổng chứ cha tôi không thể có tiền để gửi tôi vào học những trường như thế.


Ngay sau khi thôi học (lúc đó tôi chưa đủ 20 tuổi) tôi đi Miến Điện và tham gia lực lượng cảnh sát Hoàng gia tại đây. Tôi làm ở đó năm năm. Việc này hoàn toàn không hợp với tôi, tôi trở nên căm ghét chủ nghĩa đế quốc mặc dù lúc đó tinh thần quốc gia ở Miến Điện chưa cao và quan hệ giữa người Anh và người Miến cũng chưa đến nỗi nào. Sau khi về lại Anh quốc vào năm 1927 tôi giải ngũ và bắt đầu viết văn: thời gian đầu không có thành công đáng kể nào. Trong những năm 1928-1929 tôi sống ở Paris, chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng không có nhà xuất bản nào chịu in (tôi đã xé bỏ hết). Những năm sau đó tôi phải tay làm hàm nhai, đôi khi phải nhịn đói. Chỉ từ năm 1934 tới nay tôi mới sống được bằng ngòi bút. Trong thời gian này tôi đã sống nhiều tháng giữa những người nghèo khổ và bất hảo, ăn xin và ăn cắp tại những khu vực tồi tệ nhất của những khu phố nghèo. Lúc đầu tôi phải nhập bọn với họ vì không có tiền, nhưng sau này tôi lại rất thích lối sống đó. Tôi đã dành nhiều tháng trời để nghiên cứu đời sống thợ mỏ ở miền Bắc nước Anh. Cho đến năm 1930 nói chung tôi vẫn chưa phải là người theo trường phái xã hội. Thực ra tôi vẫn chưa xác định được quan điểm chính trị của mình.Tôi trở thành người theo trường phái xã hội vì căm thù cách người ta đàn áp và khinh thường tầng lớp công nhân công nghiệp nghèo khổ chứ không phải vì thán phục xã hội theo kế hoạch hoá về mặt về mặt lí luận.


Tôi lập gia đình năm 1936. Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra ngay trong những ngày đó. Hai vợ chồng tôi đều muốn đi Tây Ban Nha để chiến đấu cho chính phủ nước này. Chúng tôi sẵn sàng lên đường, sáu tháng sau đó, khi tôi viết xong cuốn sách mà tôi đã khởi sự từ trước. Tôi đã ở mặt trận Aragon gần Huesca sáu tháng liền, cho đến khi bị một phát đạn bắn tỉa xuyên qua cổ.


Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến những người ngoại quốc hoàn toàn không hiểu được cuộc đấu tranh giữa các đảng phái ủng hộ chính phủ Tây Ban Nha. Do một loạt sự tình cờ, tôi không tham gia các Binh đoàn Quốc tế như đa số những người ngoại quốc khác mà chiến đấu trong hàng ngũ của lực lượng vũ trang POUM, đảng của những người theo phái Troskist Tây Ban Nha.


Vì vậy giữa năm 1947 khi những người Cộng sản nắm được quyền kiểm soát (hay một phần quyền kiểm soát) chính phủ Tây Ban Nha và bắt đầu săn đuổi những người Troskist thì cả hai vợ chồng tôi đều trở thành nạn nhân. Chúng tôi may mắn đi khỏi được Tây Ban Nha, thậm chí không bị bắt lần nào. Nhiều bạn bè của chúng tôi đã bị bắn bỏ, một số bị tù đày nhiều năm, số khác thì mất tích.
Những cuộc săn người ở Tây Ban Nha xảy ra đồng thời với những cuộc thanh trừng vĩ đại ở Liên Xô. Thực chất những vụ thanh trừng ở Tây Ban Nha và ở Nga chỉ là một (gọi là âm mưu với bọn phát xít) và nếu nói về Tây Ban Nha thì tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đấy là những vụ kết án oan. Qua đó tôi đã nhận được một bài học đắt giá: nó dạy tôi rằng bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị dễ dàng lèo lái dư luận ở những nước dân chủ đến mức nào.


Hai vợ chồng tôi đã chứng kiến những người vô tội bị quẳng vào nhà giam chỉ vì họ bị nghi là không theo đường lối chính thống. Khi trở về Anh chúng tôi thấy rất nhiều người thạo tin và nhạy bén tin vào những bản án kì quặc về âm mưu phản bội và phá hoại do báo chí tường thuật từ những vụ án ở Moscow.


Và tôi thực sự hiểu ra ảnh hưởng tiêu cực của huyền thoại Xô viết đối với phong trào xã hội ở phương Tây.


Đến đây tôi xin dừng lại một chút để trình bày thái độ của tôi đối với chế độ Xô viết.


Tôi chưa đến thăm Nga bao giờ và hiểu biết của tôi về nước Nga chỉ là kiến thức do thu lượm được từ báo chí, sách vở. Ngay cả nếu có đủ sức tôi cũng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô: tôi sẽ không kết án Stalin và các cộng sự của ông ta chỉ vì những phương pháp dã man và phi dân chủ của họ. Có thể là trong những điều kiện như thế, dù có muốn, họ cũng không thể hành động khác được.


Nhưng mặt khác đối với tôi điều cực kì quan trọng là nhân dân Tây Âu phải nhận rõ chế độ Xô viết như nó đang là. Từ năm 1930 tôi nhìn thấy rất ít bằng chứng là Liên Xô đang tiến đến cái có thể thực sự gọi là Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, có những chỉ dấu rõ ràng rằng xã hội ấy đang chuyển hoá thành xã hội có tôn ti trật tự và những người cầm quyền, cũng như mọi giai cấp cầm quyền khác, chẳng thấy có lí do gì để rời bỏ quyền lực đã làm tôi choáng váng. Hơn nữa công nhân và trí thức ở những nước như Anh quốc lại không hiểu rằng Liên Xô hôm nay đã khác hẳn Liên Xô năm 1917. Một phần vì họ không chịu hiểu (nghĩa là họ muốn tin rằng có một nước xã hội chủ nghĩa quả thực đang tồn tại ở đâu đó), một phần vì họ quen với cuộc sống tự do và ôn hoà, họ không biết gì về chủ nghĩa toàn trị.


Cần phải nhớ rằng nước Anh chưa phải là nước hoàn toàn dân chủ. Đây vẫn là nước tư bản với những đặc quyền đặc lợi giai cấp (ngay cả bây giờ, sau cuộc chiến tranh có xu hướng làm cho mọi người bình đẳng hơn) và sự chênh lệch gay gắt về tài sản. Nhưng dù sao ở đây người dân đã có cuộc sống không có những xáo trộn lớn suốt mấy trăm năm qua, luật pháp tương đối công chính, tin tức và số liệu của chính quyền có thể tin được và cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là người ta có thể giữ và ủng hộ quan điểm của thiểu số mà không bị bất kì đe dọa chết người nào. Trong hoàn cảnh như vậy người ta không thể nào hiểu được những hiện tượng như trại tập trung, cưỡng ép di cư hàng lọat, bỏ tù không cần xét xử, kiểm duyệt báo chí v.v... Tất cả những điều đọc được trên báo chí về những nước như Liên Xô được tự động phiên dịch sang các thuật ngữ của nước Anh và họ ngây thơ tin ngay những điều dối trá của bộ máy tuyên truyền của chế độ toàn trị đó. Cho đến năm 1939, và cả sau này nữa, đa số người Anh không hiểu được thực chất chế độ phát-xít ở Đức và nay họ cũng có ảo tưởng tương tự như vậy đối với Liên Xô.


Điều đó đặc biệt có hại đối với phong trào Xã hội Anh và gây hậu quả xấu đối với chính sách đối ngoại của nước Anh. Theo tôi, tin rằng nước Nga là nước xã hội chủ nghĩa và mọi hành vi của những người cầm quyền ở đó đều nên được tha thứ, nếu không nói là phải theo là sự phản bội đối với lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy trong mười năm gần đây tôi đã đi đến kết luận rằng việc phá tan huyền thoại Xô viết là việc làm vô cùng cần thiết nếu ta muốn tái sinh phong trào xã hội chủ nghĩa.


Ngay sau khi trở về từ Tây Ban Nha tôi đã nghĩ đến việc vạch trần huyền thoại Xô viết dưới dạng một câu chuyện dễ hiểu và dễ dịch sang các thứ tiếng khác. Nhưng chi tiết của câu chuyện vẫn chưa có, cho đến một hôm (khi đó tôi sống ở nông thôn) tôi trông thấy một cậu bé, khoảng mười tuổi, đang đánh một chiếc xe ngựa to trên một con đường hẹp, cứ mỗi lần con ngựa định quay ngang là cậu bé lại ra roi. Trong đầu tôi bỗng loé lên ý nghĩ rằng nếu loài vật nhận thức được sức mạnh của chúng thì con người không thể nào còn điều khiển được chúng nữa và con người bóc lột loài vật cũng hệt như các tầng lớp hữu sản bóc lột giai cấp vô sản vậy.


Tôi tiến hành phân tích học thuyết của Marx trên quan điểm của súc vật. Đối với loài vật thì rõ ràng là luận điểm về đấu tranh giai cấp giữa người với người chỉ là một sự lừa mị, vì mỗi khi cần bóc lột súc vật là tất cả mọi người lại đoàn kết với nhau để chống lại chúng: cuộc đấu tranh thực sự là cuộc đấu tranh giữa loài vật và loài người. Từ đây việc tạo ra tác phẩm không còn khó nữa. Tôi bận nhiều việc khác, không có thì giờ, cho nên mãi đến năm 1943 tôi vẫn chưa bắt đầu viết truyện này và cuối cùng tôi đã đưa thêm một số sự kiện, thí dụ như Hội nghị Teheran là sự kiện xảy ra trong thời gian tôi viết. Như vậy là đường hướng chính của câu chuyện đã nằm trong đầu tôi suốt sáu năm trước khi tôi thực sự đưa nó lên giấy.


Tôi không có ý bình luận tác phẩm, nếu tác phẩm không có sức thuyết phục thì có nghĩa là tác phẩm ấy đã thất bại. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai điểm: thứ nhất, mặc dù nhiều tình tiết được lấy từ lịch sử của cuộc Cách mạng Nga nhưng chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng và trật tự đã được thay đổi cho cân đối với cốt truyện. Điểm thứ hai thường bị các nhà phê bình bỏ qua, nguyên nhân có thể là vì tôi chưa nhấn đúng mức. Nhiều độc giả sau khi đọc xong có cảm tưởng rằng cuốn sách đã dừng lại ở sự hoà giải hoàn toàn giữa loài lợn và loài người. Nhưng đấy không phải là ý của tôi, ngược lại, tôi cố ý kết thúc ở chỗ chỉ rõ sự bất hoà, vì tôi viết chuyện này ngay sau Hội nghị Teheran, mọi người lúc đó đều nghĩ rằng Hội nghị này sẽ thiết lập một mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể giữa Liên Xô và phương Tây. Cá nhân tôi không tin rằng quan hệ tốt đẹp đó có thể kéo dài được lâu, và như các sự kiện cho thấy, tôi đã không lầm.


Tôi không biết phải nói gì thêm nữa. Nếu độc giả nào quan tâm đến cá nhân tôi thì tôi xin nói thêm rằng tôi đã goá vợ, hiện tôi đang sống với con trai ba tuổi, tôi là nhà văn chuyên nghiệp nhưng từ khi bắt đầu cuộc chiến thì tôi làm việc chủ yếu như một phóng viên.


Tôi thường viết cho tờ Tribune, một tờ tuần báo đại diện cho phái tả của đảng Lao động. Các cuốn sách sau đây của tôi có thể được độc giả quan tâm: Những ngày ở Miến điện (câu chuyện về Miến điện), Tưởng nhớ Catalonia (viết về những trải nghiệm của tôi trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha) và tác phẩm Phê bình (các bài viết về văn học đương đại Anh, được viết chủ yếu từ quan điểm xã hội học hơn là quan điểm thuần tuý văn chương).


1947

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2006

Crying out of love, in the center of the world


Dành tặng cho những ai yêu câu chuyện này như tôi

After I met Aki… Imised a lot of chances to be with her, but, when I look back, it seems as through she was always beside me. It has taken me a long time to accept the reality thatt… Aki died.

Chỉ là một trò chơi, để cậu bé có thể thắng cô bạn mình, để có một chiếc đài. Chỉ là đùa thôi, cho dù cậu nói rằng, cô bạn ấy bị bệnh, sắp chết.

Một người đàn ông khi đã già, vẫn muốn thực hiện mong ước của mình, được chôn bên cạnh người ông đã yêu, người chỉ vì chiến tranh, ông đã mất, dẫu cho thân thể của bà chỉ vỏn vẹn một lóng xương.

Cháu ông không hiểu, sao có thể yêu một người lâu đến thế? Năm mươi năm có gì là lâu, khi tình yêu là sự bất tử.

Rồi đến 1 ngày,cậu sẽ rõ.

Hurry up and come back! Hurry and come back to my world! We have to kiss a lot, and hug each other again.

Giữa căn phòng bệnh trắng toát vô trùng, cô bé vật vã với cơn bệnh, chỉ một niềm mong ước, được đặt chân tới Uluru. Chỉ là một hình ảnh bắt gặp tình cờ, nơi đầy cát, gió và đá sỏi đó đã trở thành trung tâm thế giới của cả 2 người.

I’m so fortunate that it makes me scared! Thinking that if i were to lose the happiness i have now… that darkness in a deep night makes me uneasy.

Bên ngoài căn phòng bệnh, cậu bé cảm nhận được bóng tối. Sẽ ra sao nếu không còn cô? Ánh sáng tỏa ra từ nụ cười trong trẻo, làm sao có thể biến mất.

It’s really easy for us to miss each other in this big, big world…

Cháu hiểu vì sao ông yêu bà ấy thế.

Tiếng mưa như giấu vào lòng những nỗi lo sợ mơ hồ. Họ nắm chặt tay nhau, không tin rồi một ngày đôi bàn tay kia sẽ rời xa mãi mãi.

Với Saku, cậu chưa từng sống trong cuộc đời không có hơi thở của Aki, cho đến ngày cô mất.

In order to keep myself from crying, i keep telling myself, if i cry i’ll turn all of the little hope that i have into dust. And to myself, who know that there’s no hope right from the start no way of being swallowed by the darkness alone. Regret, hatred, i kept crying.

Cô bé ấy đã mỉm cười đến phút cuối cùng, dù sao, cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc.

I can only see the sky and the ocean so quiet. It’s as if we were at the heart of the world! Lifting our heads and looking at the sky like this…

Một trái tim suốt 17 năm chưa lành lại, bởi mỗi lúc nhìn lên bầu trời, lại nghe tiếng Aki.

Everytime i cry for Aki into the sky, it seems like i can hear Aki’s bits answering me : Saku-kun. I can be sure i won’t miss her, that’s why then i cry out Aki’s name

Và tình yêu không chết.

Crying out of love, in the center of the world


Dành tặng cho những ai yêu câu chuyện này như tôi

After I met Aki… Imised a lot of chances to be with her, but, when I look back, it seems as through she was always beside me. It has taken me a long time to accept the reality thatt… Aki died.

Chỉ là một trò chơi, để cậu bé có thể thắng cô bạn mình, để có một chiếc đài. Chỉ là đùa thôi, cho dù cậu nói rằng, cô bạn ấy bị bệnh, sắp chết.

Một người đàn ông khi đã già, vẫn muốn thực hiện mong ước của mình, được chôn bên cạnh người ông đã yêu, người chỉ vì chiến tranh, ông đã mất, dẫu cho thân thể của bà chỉ vỏn vẹn một lóng xương.

Cháu ông không hiểu, sao có thể yêu một người lâu đến thế? Năm mươi năm có gì là lâu, khi tình yêu là sự bất tử.

Rồi đến 1 ngày,cậu sẽ rõ.

Hurry up and come back! Hurry and come back to my world! We have to kiss a lot, and hug each other again.

Giữa căn phòng bệnh trắng toát vô trùng, cô bé vật vã với cơn bệnh, chỉ một niềm mong ước, được đặt chân tới Uluru. Chỉ là một hình ảnh bắt gặp tình cờ, nơi đầy cát, gió và đá sỏi đó đã trở thành trung tâm thế giới của cả 2 người.

I’m so fortunate that it makes me scared! Thinking that if i were to lose the happiness i have now… that darkness in a deep night makes me uneasy.

Bên ngoài căn phòng bệnh, cậu bé cảm nhận được bóng tối. Sẽ ra sao nếu không còn cô? Ánh sáng tỏa ra từ nụ cười trong trẻo, làm sao có thể biến mất.

It’s really easy for us to miss each other in this big, big world…

Cháu hiểu vì sao ông yêu bà ấy thế.

Tiếng mưa như giấu vào lòng những nỗi lo sợ mơ hồ. Họ nắm chặt tay nhau, không tin rồi một ngày đôi bàn tay kia sẽ rời xa mãi mãi.

Với Saku, cậu chưa từng sống trong cuộc đời không có hơi thở của Aki, cho đến ngày cô mất.

In order to keep myself from crying, i keep telling myself, if i cry i’ll turn all of the little hope that i have into dust. And to myself, who know that there’s no hope right from the start no way of being swallowed by the darkness alone. Regret, hatred, i kept crying.

Cô bé ấy đã mỉm cười đến phút cuối cùng, dù sao, cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc.

I can only see the sky and the ocean so quiet. It’s as if we were at the heart of the world! Lifting our heads and looking at the sky like this…

Một trái tim suốt 17 năm chưa lành lại, bởi mỗi lúc nhìn lên bầu trời, lại nghe tiếng Aki.

Everytime i cry for Aki into the sky, it seems like i can hear Aki’s bits answering me : Saku-kun. I can be sure i won’t miss her, that’s why then i cry out Aki’s name

Và tình yêu không chết.

Crying out of love, in the center of the world


Dành tặng cho những ai yêu câu chuyện này như tôi

After I met Aki… Imised a lot of chances to be with her, but, when I look back, it seems as through she was always beside me. It has taken me a long time to accept the reality thatt… Aki died.

Chỉ là một trò chơi, để cậu bé có thể thắng cô bạn mình, để có một chiếc đài. Chỉ là đùa thôi, cho dù cậu nói rằng, cô bạn ấy bị bệnh, sắp chết.

Một người đàn ông khi đã già, vẫn muốn thực hiện mong ước của mình, được chôn bên cạnh người ông đã yêu, người chỉ vì chiến tranh, ông đã mất, dẫu cho thân thể của bà chỉ vỏn vẹn một lóng xương.

Cháu ông không hiểu, sao có thể yêu một người lâu đến thế? Năm mươi năm có gì là lâu, khi tình yêu là sự bất tử.

Rồi đến 1 ngày,cậu sẽ rõ.

Hurry up and come back! Hurry and come back to my world! We have to kiss a lot, and hug each other again.

Giữa căn phòng bệnh trắng toát vô trùng, cô bé vật vã với cơn bệnh, chỉ một niềm mong ước, được đặt chân tới Uluru. Chỉ là một hình ảnh bắt gặp tình cờ, nơi đầy cát, gió và đá sỏi đó đã trở thành trung tâm thế giới của cả 2 người.

I’m so fortunate that it makes me scared! Thinking that if i were to lose the happiness i have now… that darkness in a deep night makes me uneasy.

Bên ngoài căn phòng bệnh, cậu bé cảm nhận được bóng tối. Sẽ ra sao nếu không còn cô? Ánh sáng tỏa ra từ nụ cười trong trẻo, làm sao có thể biến mất.

It’s really easy for us to miss each other in this big, big world…

Cháu hiểu vì sao ông yêu bà ấy thế.

Tiếng mưa như giấu vào lòng những nỗi lo sợ mơ hồ. Họ nắm chặt tay nhau, không tin rồi một ngày đôi bàn tay kia sẽ rời xa mãi mãi.

Với Saku, cậu chưa từng sống trong cuộc đời không có hơi thở của Aki, cho đến ngày cô mất.

In order to keep myself from crying, i keep telling myself, if i cry i’ll turn all of the little hope that i have into dust. And to myself, who know that there’s no hope right from the start no way of being swallowed by the darkness alone. Regret, hatred, i kept crying.

Cô bé ấy đã mỉm cười đến phút cuối cùng, dù sao, cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc.

I can only see the sky and the ocean so quiet. It’s as if we were at the heart of the world! Lifting our heads and looking at the sky like this…

Một trái tim suốt 17 năm chưa lành lại, bởi mỗi lúc nhìn lên bầu trời, lại nghe tiếng Aki.

Everytime i cry for Aki into the sky, it seems like i can hear Aki’s bits answering me : Saku-kun. I can be sure i won’t miss her, that’s why then i cry out Aki’s name

Và tình yêu không chết.

Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ